CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA ĐỊA PHƯƠNG 1. Khái quát chung về hoạt động Xuất khẩu 1. Khái niệm Xuất khẩu “Lý luận Thương mại Quốc tế: theo từ điển Bách khoa toàn thư Xuất khẩu, là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, cán cân thanh toán quốc tế trong là việc bán hàng hóa cho nước ngoài” [19]. Khái niệm khác: “Khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu theo khoản 1, điều 28 Luật thương mại 2005 của Việt Nam, nêu cụ thể như sau: Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” [9].
Cơ sở lý luận của hoạt động Xuất khẩu “Quá trình nghiên cứu của các trường phái kinh tế khác nhau trong lịch sử phát triển tư tưởng kinh tế thế giới đã đưa ra những lý thuyết để lý giải vấn đề này, khẳng định sự phát triển của thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng luôn luôn gắn liền với sự phát triển văn minh của xã hội loài người. Ngoài ra hoạt động xuất khẩu có tác động tích cực của đối với sự phát triển kinh tế và sự tăng trưởng được lập trình theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp, nhận thức từ thấp đến cao, từ phiến diện đến toàn diện, từ hiện tượng đến bản chất” [16]. Lý thuyết trọng thương Là trường phái đầu tiên đánh giá cao vai trò của thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng, coi đây là nguồn gốc của của cải, của sự giàu có. 6 Nội dung chính của lý thuyết này là: Mỗi quốc gia muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ bằng phát triển ngoại thương và mỗi quốc gia chỉ có thể thu được lợi ích từ ngoại thương nếu cán cân thương mại mang dấu dương hay giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu.
Được lợi là vì thặng dư của xuất khẩu so với nhập khẩu được thanh toán bằng vàng, bạc và chính vàng, bạc là tiền tệ, là biểu hiện của sự giàu có. Đối với một quốc gia không có mỏ vàng hay bạc chỉ còn cách duy nhất là trông cậy vào phát triển ngoại thương [16]. Ý nghĩa tích cực của học thuyết này là đối lập với tư tưởng phong kiến lúc bấy giờ là coi trọng nền kinh tế tự cung, tự cấp. Ngoài ra, những người theo chủ nghĩa này cũng sớm nhận thức được vai trò qua trọng của nhà nước trong quản lý, điều hành trực tiếp các hoạt động kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế quan, bảo hộ mậu dịch trong nước.
để bảo hộ các ngành sản xuất non trẻ, kiểm soát nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith “Adam Smith đã đưa ra lý thuyết cho rằng thương mại giữa hai nước với nhau là xuất phát từ lợi ích của cả hai bên dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối của từng nước. Một hàng hoá được coi là có lợi thế tuyệt đối khi chi phí sản xuất tính theo giờ công lao động quy chuẩn để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá đó phải thấp hơn nước khác. Do vậy các quốc gia, các công ty có thể đạt được lợi ích lớn hơn thông qua sự phân công lao động quốc tế nếu quốc gia đó biết tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá có lợi thế tuyệt đối, đồng thời biết tiến hành nhập khẩu những hàng hoá kém lợi thế tuyệt đối” [16].
Khác với sự phiến diện của lý thuyết trọng thương đã tuyệt đối hoá vai trò của ngoại thương, Adam Smith cho rằng ngoại thương có vai trò rất to lớn nhưng không phải nguồn gốc duy nhất của sự giàu có. Sự giàu có không phải do ngoại thương mà là do công nghiệp, tức là do hoạt động sản xuất đem lại chứ không phải do hoạt động lưu thông. Cả hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa phải được tiến hành một cách tự do, do quan hệ cung cầu thị trường quyết định, hạn chế tối da sự can thiệp của chính phủ. 7 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo “Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo khẳng định ngoại thương sẽ tồn tại trong bất cứ điều kiện nào, do những quy luật kinh tế quy định.
Buôn bán với nước ngoài là rất có lợi với một nước, bởi vì nó làm tăng thêm số lượng và chủng loại đồ vật mà người ta có thể dùng thương nghiệp để mua và tung ra dồi dào những hàng hóa rẻ, nó khuyến khích và tạo lợi nhuận cho tích lũy tư bản. Theo David Ricardo, những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nước khác, vẫn có thể và có lợi khi tham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nước đều có những lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác. Các nước sẽ có lợi khi chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà họ làm ra với chi phí cơ hội hay còn gọi là chi phí so sánh thấp hơn so với các nước khác” [16]. Mô hình Hecksher - Ohlin (mô hình H-O) “Mô hình H-O còn được gọi là “lý thuyết lợi thế so sánh các nguồn lực sản xuất vốn có” do cơ sở lý luận của lý thuyết này chính là dựa vào lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo nhưng ở trình độ cao hơn là đã xác định được nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu tố sản xuất.
Lý thuyết này đã giải thích hiện tượng thương mại quốc tế là do trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi quốc gia đều hướng đến chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất. Một số nước có lợi thế so sánh hơn trong việc sản xuất và xuất khẩu một số sản phẩm hàng hoá của mình là do việc sản xuất những sản phẩm đó đã sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà một trong số nước đó đã được ưu đãi hơn so với một số nước khác. Chính sự ưu đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản xuất này, bao gồm vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu., đã khiến một số nước đó có chi phí cơ hội thấp hơn so với việc sản xuất các sản phẩm hàng hoá khác khi sản xuất những sản phẩm hàng hoá đó” [16]. Lý thuyết lợi thế so sánh của P.Samuelson đã phát biểu lại và chính xác thêm lý thuyết lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế của Hecksher -Ohlin.
Lý thuyết này chỉ ra rằng nếu 8 khả năng kỹ thuật sản xuất là đồng đều đối với mọi nước thì nước sẽ chuyên môn hóa sản xuất của cải với kỹ thuật sản xuất đòi hỏi sử dụng mạnh mẽ yếu tố sản xuất mà nước đó có lợi thế so sánh nhất” [16]. Thuyết chu kỳ sống sản phẩm Nội dung cơ bản của học thuyết này như sau: “rất nhiều sản phẩm phải trải qua một chu kỳ sống bao gồm bốn giai đoạn: giới thiệu; phát triển; chín muồi và suy thoái. Để kéo dài chu kỳ sống của một sản phẩm, xét trên quy mô thị trường thế giới, các hãng thường hay thay đổi địa điểm sản xuất, mở rộng sản xuất sang khu vực thị trường khác tuỳ thuộc vào từng giai đoạn của chu kỳ sống. Kết quả là tạo nên quan hệ thương mại giữa các quốc gia về sản phẩm đó và quan hệ này thay đổi tuỳ theo các giai đoạn của chu kỳ: Giai đoạn giới thiệu: vì là sản phẩm mới, còn sản xuất độc quyền nên giá cao, sản lượng tiêu thụ ít, chủ yếu ở nước phát minh ra sản phẩm.
Giai đoạn phát triển: sản lượng sản xuất và tiêu thụ tăng mạnh, nhiều nhà sản xuất cùng tham gia sản xuất các sản phẩm tương tự, cạnh tranh tăng; nhà sản xuất mới bắt đầu xuất khẩu sản phẩm sau tìm cách di chuyển địa điểm sản xuất sang các quốc gia gần gũi về mức sống và văn hoá. Giai đoạn chín muồi: sản phẩm cạnh tranh mạnh, giá hạ, thị phần giảm, giá giảm. Sau khi cải tiến thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, nhà sản xuất tìm cách mới đầugiới thiệu, phát triển thị trường sau di chuỷen địa điểm sản xuất sang các nước kém phát triển hơn. Giai đoạn suy thoái: sản phẩm đã lão hoá, chủ yếu chỉ còn thị trường ở những nước đang phát triển.
Trong giai đoạn này có hiện tượng xuất khẩu ngược sản phẩm về các nước công nghiệp phát triển do một bộ phận dân cư vẫn còn có nhu cầu về sản phẩm” [16]. Mô hình kim cương của Michael Porter “Mô hình này lý giải tại sao một số nước lại thành công còn một số khác lại thất bại trong cạnh tranh quốc tế.Porter đã xây dựng lý thuyết về bốn thuộc tính lớn của một quốc gia hình thành nên môi trường cạnh tranh cho các công ty tại nước đó, và những thuộc tính này thúc đẩy hoặc ngăn cản sự tạo ra lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó. Bốn thuộc tính đó là: Điều kiện về các yếu tố sản xuất; Các điều kiện về cầu - nhu cầu trong nước đối với hàng hóa hoặc dịch vụ 9 của một ngành; Các ngành hỗ trợ và liên quan; Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành” [16]. “Các thuộc tính này tương tác và củng cố lẫn nhau.
Tác động của một thuộc tính sẽ phụ thuộc vào tình trạng của các thuộc tính khác. Ngoài ra, có hai yếu tố nữa có thể chi phối tới mô hình kim cương của quốc gia theo những cách thức quan trọng khác nhau: đó là cơ hội và chính phủ” [16]. “Còn nhiều lý do khác nhau khiến thương mại quốc tế ra đời và ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong một thế giới hiện đại. Một trong những lý do đó có thể là thương mại quốc tế tối cần thiết cho việc chuyên môn hoá để có hiệu quả kinh tế cao trong các ngành công nghiệp hiện đại.
Chuyên môn hoá quy mô lớn làm chi phí sản xuất giảm và hiệu quả kinh tế theo quy mô sẽ được thực hiện trong hàng hoá các nước sản xuất. Sự khác nhau về sở thích và mức cầu cũng là một nghuyên nhân khác để có thương mại quốc tế.