Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng đối với DNNVV. Chương 2: Thực trạng cho vay đối với DNNVV tại VCB ĐN. Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay đối với DNNVV tại VCB ĐN. 123doc 1 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA.1 Khái niệm DNNVV Có nhiều quan niệm khác nhau về DNNVV, tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, từng giai đoạn phát triển kinh tế để đưa ra những quy định về DNNVV.
Tuy nhiên, đa phần khi định nghĩa về DNNVV các quốc gia thường căn cứ vào quy mô vốn của doanh nghiệp, số lao động thường xuyên như là tiêu chí ưu tiên. Ngoài ra, còn sử dụng quy mô doanh thu, tổng tài sản của doanh nghiệp … Dưới đây là cách phân loại DNNVV của Ngân hàng thế giới (World Bank), Liên minh Châu Âu (EU) và Nhật Bản. 1: Phân loại DNNVV theo World Bank Loại DN Số lao động (ngƣời) Vốn (USD) Doanh thu (USD) Siêu nhỏ ≤ 10 ≤ 10. 2: Phân loại DNNVV theo EU Loại DN Số lao động (ngƣời) Vốn (Euro) Doanh thu (Euro) Siêu nhỏ ≤ 10 ≤ 2.000 Nguồn:Dương Văn Bôn (2008), Nâng cao khả năng cạnh tranh cho các DNNVV của Việt Nam trong tiến trình hội nhập vào WTO, Luận văn thạc sĩ kinh tế, TrườngĐại học Kinh tế Tp.Hồ Ch Minh.
3: Phân loại DNNVV theo Nhật Bản Doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp Ngành nghề Vốn Lao động siêu nhỏ Công nghiệp khai thác, ≤ 100 triệu yên < 300 người ≤ 20 người chế tạo, vận tải, xây dựng Thương nghiệp bán buôn ≤ 30 triệu yên < 100 người ≤ 5 người Thương nghiệp bán lẻ và ≤ 10 triệu yên < 50 người ≤ 5 người dịch vụ Nguồn: PGS. Đỗ Đức Định (1999), kinh nghiệm và cẩm nang phát triển xí nghiệp vừa và nhỏ ở một số nước trên thế giới, NXB Thống kê, Hà Nội. Đối với đa phần các quốc gia phát triển (Mỹ, Pháp …), những doanh nghiệp có số lao động từ 500 trở xuống thì được coi là có quy mô vừa và nhỏ, trong số đó những doanh nghiệp có số lao động 200 trở xuống được coi là doanh nghiệp nhỏ. Ở Việt Nam, theo công văn số 681/CP-KTN ngày 20/06/1998 của Chính phủ quy định tiêu chí xác định DNNVV là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm là 200 người.
Theo Nghị định số 91/2001/CP-NĐ ngày 23/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ thì DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người, trong đó không phân biệt doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ định nghĩa DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể theo bảng sau: Bảng 1. 4: Phân loại DNNVV theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ 123doc 3 Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số lao động Tổng Số lao Tổng Số lao Khu vực nguồn vốn động nguồn vốn động I. Nông, 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 lâm nghiệp xuống trở xuống người đến đồng đến người đến và thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II.
Công 10 người trở 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và xuống trở xuống người đến đồng đến người đến xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. Thương 10 người trở 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 mại và dịch xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến vụ 50 người tỷ đồng 100 người Bảng 1. 5: Tiêu chí phân loại DNNVV ở một số nƣớc TÊN NƢỚC TIÊU CHÍ DNNVV ÚC Sản xuất: dưới 100 LĐ Phi sản xuất: dưới 20 LĐ MỸ Doanh nghiệp nhỏ: dưới 100 LĐ Doanh nghiệp vừa: 101 - 499 LĐ CỘNG HOÀ LIÊN Dưới 500 LĐ BANG ĐỨC ĐÀI LOAN Công nghiệp, xây dựng: Vốn góp dưới 40 triệu NTD, dưới 300 LĐ Khai khoáng: vốn góp dưới 40 triệu NTD, dưới 500 LĐ Thương mại, vận tải và dịch vụ khác: dưới 40 triệu NTD doanh thu, dưới 50 LĐ “Nguồn: tổng hợp từ dữ liệu sưu tầm trên mạng” 123doc 4 1.2 Đặc điểm của DNNVV 1.1 Đặc trưng về vốn. Các DNNVV thường bị hạn chế về vốn và khả năng huy động vốn.
Nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp chủ yếu từ nguồn vốn tự có, vay mượn từ bạn bè, người thân, vay từ TCTD,… Tuy nhiên, khi mới khởi nghiệp, hoặc chưa đủ mạnh, chưa đủ uy tín thì khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các DNNVV sẽ gặp nhiều khó khăn.2 Đặc trưng về trình độ công nghệ. Trình độ công nghệ hạn chế do tình hình tài chính yếu, tuy nhiên DNNVV rất linh hoạt trong việc thay đổi công nghệ sản xuất do máy móc thiết bị thường có giá trị thấp, nhỏ, đơn giản, dễ lắp đặt, dễ vận hành. Các DNNVV thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ phù hợp với quy mô của mình từ những công nghệ cũ và lạc hậu. Điều này thể hiện tính linh hoạt trong đổi mới công nghệ và tạo nên sự khác biệt về sản phẩm để DNNVV có thể tồn tại trên thị trường, tuy nhiên mức độ đổi mới rất hạn chế.3 Đặc trưng về trình độ quản lý và lao động.
Chất lượng lao động của các DNNVV thấp, hạn chế về trình độ chuyên môn, thiếu kiến thức về kinh tế - xã hội, ngành nghề và khả năng quản trị kinh doanh…, đặc biệt trong các doanh nghiệp nhỏ nhân công thường là những người trong gia đình làm việc theo kinh nghiệm, thói quen, không được đào tạo bài bản. Lãnh đạo doanh nghiệp thường là kỹ sư hoặc kỹ thuật viên, người có kinh nghiệm đứng ra thành lập và quản lý doanh nghiệp nên thường phải đảm nhiệm nhiều công việc như điều hành, nhân sự, kỹ thuật, marketing, bán hàng … Phần lớn chủ doanh nghiệp không được đào tạo về quản lý, khả năng xây dựng phương án, dự án kinh doanh có tính khả thi còn yếu. DNNVV được hình thành và hoạt động phù hợp với nhu cầu thực tế trên mỗi địa bàn, vì vậy có thể tận dụng được các nguồn lực sẵn có như tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ … 1.4 Đặc trưng về thông tin và các mối quan hệ. 123doc 5 Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài do DNNVV thường là doanh nghiệp mới hình thành, uy tín chưa cao, hoạt động marketing còn hạn chế, chưa có nhiều khách hàng, quy mô thị trường thường bó hẹp trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới rất khó khăn.
Các DNNVV luôn nhạy cảm với những biến động của thị trường, chuyển đổi mặt hàng nhanh, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Tuy nhiên, các sản phẩm sản xuất thường không được coi trọng về mặt chất lượng và tuổi thọ. Các DNNVV có sự xung đột giữa lợi ích tư nhân và lợi ích xã hội. Đa số doanh nghiệp đều được hình thành dựa vào vốn tự có của chủ doanh nghiệp vì thế mục tiêu hoạt động thường vì lợi ích của chủ doanh nghiệp, ít quan tâm đến lợi ích của doanh nghiệp khác và của xã hội.
Các DNNVV thường từ chối những lĩnh vực kinh doanh không đem lại lợi nhuận cao như đối với lĩnh vực hàng hoá công cộng.3 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế 1.1 Đối với sự phát triển nền kinh tế DNNVV hiện chiếm 97% tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập tại Việt Nam. Theo đánh giá của Chính phủ, nhóm doanh nghiệp này có vai trò rất quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển và đóng góp vào ngân sách nhà nước. Cùng với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước, DNNVV ở nước ta ngày càng phát triển, đóng góp đáng kể vào sự nghiệp chấn hưng kinh tế đất nước, đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia, cụ thể: - Góp phần làm năng động nền kinh tế: với số lượng lớn kết hợp với chuyên môn hóa, đa dạng hóa, mềm dẻo, hòa nhịp với đòi hỏi uyển chuyển của nền kinh tế thị trường, các DNNVV đã góp phần làm năng động nền kinh tế. - Huy động mọi nguồn lực xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Các doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở 123doc 6 những trung tâm kinh tế của đất nước, còn DNNVV lại có mặt ở khắp các địa phương, từ thành thị đến nông thôn, từ những khu vực có điều kiện thuận lợi đến các địa bàn vùng sâu vùng xa.
Vì vậy, các DNNVV có thể tận dụng được mọi nguồn lực còn tiềm ẩn trong dân cư; huy động được nguồn lao động ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ; phát triển các ngành nghề truyền thống, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là khu vực nông thôn, và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng, tạo công ăn việc làm ở địa phương; góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. - Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động: DNNVV tạo ra nhiều công ăn việc làm cho số lượng lớn người lao động, góp phần đáng kể cho việc ổn định xã hội, tăng trưởng GDP, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong dân cư, đặc biệt là lao động thiếu trình độ chuyên môn. Đa số DNNVV không đòi hỏi nhân công có trình độ chuyên môn cao mà tận dụng nguồn nhân lực tại địa phương với chi phí lao động thấp, đây là lợi thế và cũng là nhược điểm của DNNVV. - Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh: Các DNNVV đã làm tăng tính mềm dẻo, linh hoạt cho các doanh nghiệp khác, buộc các doanh nghiệp phải tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Với tính tự chủ cao, các DNNVV sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh và tìm cách khai thác mọi cơ hội để phát triển, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp.