CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ DNNVV VÀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DNNVV 1.1 Tổng quan về DNNVV.1 Khái niệm và những qui định về DN và DNNVV của Việt Nam. DN là cơ sở, là nền tảng của nền kinh tế. Theo từ điển Wikipedia thì DN là một tổ chức được pháp luật thừa nhận với mục đích cung cấp hàng hoá, dịch vụ hoặc cả hai cho người tiêu dùng và tìm kiến lợi nhuận. Tuy nhiên cũng có những DN được thành lập không vì mục tiêu lợi nhuận.
Tại Việt nam, Luật Doanh nghiệp định nghĩa DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Trong đó, kinh doanh theo Luật Đầu tư được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi và đầu tư được hiểu là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật. Để thực hiện chức năng quản lý của mình, các nhà nước thực hiện việc phân loại DN theo nhiều tiêu chí khác nhau. Nếu dựa trên tiêu chí phân loại theo qui mô hoạt động thì một số nước thực hiện việc phân chia DN thành 4 loại: DN cực lớn, DN lớn, DN vừa, DN nhỏ.
Một số nước khác còn phân thêm một dạng DN nữa là DN cực nhỏ, siêu nhỏ. Và cũng ở hầu hết các quốc gia, người ta gộp DN nhỏ và DN vừa và kể cả DN cực nhỏ, siêu nhỏ thành DNNVV để có chính sách chung cho các loại DN này. DNNVV là loại DN chiếm tỷ trọng lớn và phổ biến ở hầu hết các nền kinh tế. Không có một tiêu chuẩn chung nào trong việc phân định ranh giới qui mô DN, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà mỗi quốc gia có tiêu chí phân định qui mô DN khác nhau.
123doc - 12 - Một là, việc phân định qui mô DN được xác định trong một không gian và thời gian nhất định, ranh giới qui mô DN không “cố định” mà có tính “động”, thay đổi theo tính chất hoạt động và trình độ phát triển của DN trong nền kinh tế. Hai là, qui mô DN phản ánh mức độ sản xuất, cung ứng sản phẩm lao vụ của DN cho xã hội. Để đánh giá qui mô DN có thể xem xét đến các yếu tố đầu vào như lượng vốn đầu tư, số lượng lao động thường xuyên hoặc xem xét đến các yếu tố đầu ra như doanh thu, lợi nhuận,… hoặc xem xét kết hợp cả yếu tố đầu vào, đầu ra. Ở Việt Nam, việc phân định DNNVV lần đầu tiên được qui định tại văn bản 681/CP–KTN ngày 20/6/1998 của Chính phủ về định hướng chiến lược và chính sách phát triển DNNVV.
Theo đó, tiêu chí tạm thời để xác định DNNVV ở Việt Nam là DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động hàng năm dưới 200 người”. Tiếp đó đến năm 2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ–CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển DNNVV, xác định lại tiêu chí phân loại DNNVV, cụ thể là DN có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng và lao động hàng năm là dưới 300 người. Đến năm 2009, Chính phủ lại ban hành Nghị định 56/2009/NĐ–CP ngày 30/6/2009 qui định lại tiêu chí phân loại DNNVV. Theo đó, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: –DN siêu nhỏ là DN có số lao động từ 10 người trở xuống, không phân biệt số vốn, ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh.
–DN nhỏ và DN vừa: Tổng nguồn vốn và số lao động cụ thể cho từng loại DN nhỏ và DN vừa được qui định cụ thể tại Bảng 1. Cả 03 (ba) văn bản nêu trên đều qui định tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.1 Tiêu chí phân loại DN theo qui mô nhỏ và vừa. Qui mô DN nhỏ DN vừa Tổng Số lao động Tổng nguồn Số lao động Ngành nghề nguồn vốn vốn I. Thương mại 10 tỷ đồng Từ trên 10 đến Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 đến và dịch vụ trở xuống 50 người đến 50 tỷ đồng 100 người II.
Các ngành 20 tỷ đồng Từ trên 10 đến Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 nghề khác trở xuống 200 người đến 100 tỷ đồng đến 300 người 1.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng thế giới đã coi DNNVV là xương sống và có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, kể cả các nước có trình độ phát triển cao. Có được vị trí như vậy là do DNNVV có được những vai trò quan trọng sau đây: 1.1 Tạo công ăn việc làm, góp phần ổn định xã hội. Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động là vấn đề bức xúc đối với hầu hết chính phủ các nước trên thế giới.
Sự tồn tại và phát triển của các DNNVV như là công cụ có hiệu quả để giải quyết vấn đề thất nghiệp, là nguồn cơ bản để tạo ra công ăn việc làm. Mặc dù số lượng lao động trong mỗi DNNVV không nhiều nhưng vì số lượng DN chiếm tỷ trọng lớn, theo luật số đông thì với một số lượng lớn DNNVV trong nền kinh tế đã tạo ra rất nhiều công ăn, việc làm cho xã hội.2 Nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, góp phần thúc đấy tăng trưởng kinh tế và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Với sự tồn tại của nhiều DN trong cùng một ngành, lĩnh vực đã làm giảm tính độc quyền, buộc các DN tham gia thị trường phải chấp nhận cạnh tranh, phải liên tục đổi mới để phát triển. Với tính linh hoạt của mình DNNVV cũng tạo sức ép cạnh tranh lên các DN lớn.
DNNVV với một lực lượng đông đảo trong nền kinh tế đã tạo ra một sản lượng, thu nhập đáng kể cho xã hội. Do đặc tính linh hoạt, mềm dẻo DNNVV có 123doc - 14 - khả năng đáp ứng được những nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và độc đáo của người tiêu dùng. Sự tạo lập và phát triển của loại hình DNNVV một cách dễ dàng làm gia tăng số lượng DN và gia tăng khả năng cung ứng sản phẩm và lao vụ cho nền kinh tế do đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cùng với điều đó là tăng nguồn thu cho NSNN.3 Hỗ trợ đắc lực cho DN lớn, là cơ sở để hình thành các DN, tập đoàn kinh tế lớn mạnh. Trong nền kinh tế của bất cứ quốc gia nào, nguồn lực kinh tế không thể tập trung vào các DN qui mô lớn, bởi DN qui mô lớn không thể bao quát được toàn bộ thị trường.
Với đặc trưng là nhỏ, năng động DNNVV tập trung vào “thị trường ngách” hỗ trợ cho các DN lớn trong việc tiếp cận thị trường. DNNVV đóng vai trò là DN vệ tinh cung cấp sản phẩm đầu vào hay tham gia vào một công đoạn nào đó trong qui trình sản xuất sản phẩm của DN lớn, từ đó thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa, phân công lao động trong sản xuất, tạo mối liên kết chặt chẽ giữa các loại hình kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh tế của DN lớn. DNNVV là khởi nguồn cho sự hình thành và phát triển các loại hình DN lớn trong xã hội. Hầu hết các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới khi mới thành lập đều là các DN nhỏ, qua quá trình hoạt động, các cơ sở này tự tích lũy vốn, kinh nghiệm dần dần lớn mạnh và bành trướng để trở thành các tập đoàn kinh tế hùng mạnh.
Tóm lại, tuy mỗi quốc gia có những đặc điểm và trình độ phát triển khác nhau nhưng các DNNVV đều đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần ổn định xã hội. Chính vì vậy sự tồn tại của DNNVV là tất yếu khách quan và cần thiết trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia.3 Ưu thế và hạn chế của DNNVV trong nền kinh tế thị trường.1 Những ưu thế của DNNVV. i) Năng động, nhạy bén và dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường. 123doc - 15 - Đây là ưu thế nổi trội của loại hình DNNVV.
Với qui mô nhỏ và vừa, bộ máy quản lý gọn, nhẹ, DNNVV dễ dàng tìm kiếm và đáp ứng những yêu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa ngày càng cao. Các DNNVV thường có mối liên hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên có khả năng phản ứng nhanh nhạy với sự biến động của thị trường. Với qui mô nhỏ và vừa, các DN này có khả năng tự đổi mới nhằm thích ứng nhanh với thị trường, do vậy đã mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế. Khi gặp điều kiện bất lợi thì dễ dàng thu hẹp qui mô, chuyển đổi chức năng mà không gây những hậu quả nặng nề cho xã hội.
ii) Được tạo lập dễ dàng, hoạt động có hiệu quả với chi phí cố định thấp. Để thành lập một DNNVV và đưa nó đi vào hoạt động chỉ cần một lượng vốn đầu tư ban đầu không quá lớn, mặt bằng nhỏ hẹp, qui mô nhà xưởng vừa phải. Với ưu thế nhỏ, gọn, năng động, dễ quản lý lại không cần nhiều vốn như vậy, các DNNVV vừa linh hoạt trong việc học hỏi và phát triển, tránh được những thiệt hại to lớn do môi trường khách quan tác động lên. Một số DNNVV được thành lập nhưng trong hoạt động vẫn mang tính gia đình, bè bạn hùn hạp nên mỗi khi gặp hoàn cảnh bất lợi, công nhân và chủ DN dễ dàng thoả thuận với nhau để hạ thấp tiền lương, giảm chi phí giúp DN vượt qua thời kỳ khó khăn.
iii) DNNVV có thể khai thác được các lợi thế của từng vùng, miền, tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng.