mở đầu cho hoạt động lưu thông hàng hoá (T-H). Mua hàng là hoạt động nghiệp vụ cơ bản của của doanh nghiệp xuất khẩu. Nếu không mua được hàng hoá hoặc mua không đáp ứng được yêu cầu kinh doanh thì doanh nghiệp không có hàng hoá để bán. Nếu doanh nghiệp mua phải hàng xấu, hàng giả, chất lượng kém hoặc không mua đúng số lượng, thời gian yêu cầu, doanh nghiệp sẽ bị ứ đọng hàng hoá, vốn lưu động không lưu chuyển được, doanh nghiệp sẽ không bù đắp được chi phí, sẽ không có lãi,.
Điều này chỉ rõ vị trí quan trọng của công tác tạo nguồn hàng, mua hàng có ảnh hưởng đến nghiệp vụ kinh doanh khác và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 10 SVTH: Phạm Hữu Lâm QTKD-TM K44 Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Viện TM và KT Quốc Tế Vai trò của tạo nguồn hàng Thứ nhất: Trong nền kinh tế công tác thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu tạo ra một nhu cầu mới về lao động, về vật tư tiền vốn. Như vậy tạo ra nhiều việc làm cho người Lao động, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, góp phần thay đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng tham gia vào phân công lao động quốc tế. Tiết kiệm các nguồn lực trong nước trên cơ sở kinh doanh có hiệu quả.
Thứ hai: Tạo nguồn hàng là một điều kiện không thể thiếu của hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu không có nguồn hàng, không thể tiến hành kinh doanh được. Muốn vậy phải đáp ứng được các yêu cầu, phù hợp với yêu cầu của khách hàng về số lượng, chất lượng, quy cách, cỡ loai, mầu sắc. và phù hợp về thời gian giao hàng. Có như vậy nguồn hàng mới đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và có đủ hàng hoá đảm bảo cung ứng cho khách hàng đầy đủ kịp thời.
Thứ ba: Tạo nguồn hàng phù hợp với yêu cầu của khác hàng giúp cho hoạt động kinh doanh tiến hành thuận lợi kịp thời, đẩy nhanh qua trình lưu chuyển hàng hoá, vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp bán hàng nhanh đồng thời đảm bảo uy tín với khách hàng làm cho việc cung ứng hàng diễn ra một cách liên tục, ổn định tránh đứt đoạn. Thứ tư: Tạo nguồn hàng tốt giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hạn chế bớt được tình trạng thừa thiếu, hàng hoá ứ đọng chậm luân chuyển, hàng hoá kém phẩm chất không thể bán được, gây chậm trễ cho khâu lưu thông. Thứ năm: Tạo nguồn hàng tốt còn có tác dụng lớn cho công tác tài chính của doanh nghiệp thuận lợi, thu hồi được vốn nhanh, có tiền bù đắp chi phí kinh doanh, có lợi nhuận để phát triển và mở rộng kinh doanh, tăng thu nhập cho người lao động và thực hiện đầy đủ đối nhà nước và các mặt khác của doanh nghiệp. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 11 SVTH: Phạm Hữu Lâm QTKD-TM K44 Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Viện TM và KT Quốc Tế Tạo nguồn hàng tốt có tác dụng nhiều mặt với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như trên đã phân tích, hơn thế nữa nó còn đảm bảo thị trường ổn định cho doanh nghiệp, nó thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu tăng cường khả năng mở rộng thị trường, ổn định điều kiện cung ứng hàng hoá ổn định điều kiện cung cấp các nguồn hàng, tạo điều kiện ổn định nguồn hàng với các đơn vị tiêu dùng.2 Nội dung tạo nguồn hàng cho xuất khẩu của doanh nghiệp thương mại 1.1 Nghiên cứu xác định nguồn hàng xuất khẩu Muốn khai thác và phát triển nguồn hàng ổn định các doanh nghiệp xuất khẩu phải nghiên cứu và tiếp cận thị trường.
Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu là nghiên cứu khả năng cung cấp nguồn hàng xuất khẩu trên thị trường như thế nào? Hay nói cách khác là xác định khả năng cung cấp nguồn hàng được xác định bởi nguồn hàng thực tế và nguồn hàng tiềm năng. Nguồn hàng thực tế là nguồn hàng có và sẵn sàng đưa vào lưu thông. Với nguồn hàng này chỉ cần thu mua, phân loại đóng gói là có thể xuất khẩu được. Còn với nguồn hàng tiềm năng là nguồn hàng chưa xuất hiện, nó có thể có hoặc không xuất hiện trên thị trường.
Đối với nguồn hàng này đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu phải có đơn đặt hàng, hợp đồng kinh tế thì người cung cấp mới tiến hành sản xuất. Trong xuất khẩu thì nguồn hàng này rất quan trọng, bởi hàng hoá xuất khẩu đòi hỏi mẫu mã riêng, tiêu chuẩn chất lượng cao số lượng định trước. Người sản xuất sẽ không sản xuất nếu không có đơn đặt hàng hoặc hợp đồng kinh tế vì không chắc chắn hàng sản xuất ra đã tiêu thụ được hết. Nghiên cứu nguồn hàng là nhằm xác định nhóm sản phẩm cụ thể và xuất sứ của hàng hoá chủng loại mặt hàng kích thước mẫu mã, công dụng, giá cả, thời vụ, những tính năng đặc điểm riêng của từng loại mặt hàng.
Đối với Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 12 SVTH: Phạm Hữu Lâm QTKD-TM K44 Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Viện TM và KT Quốc Tế doanh nghiệp xuất khẩu, chỉ cần nghiên cứu về một hoặc một số mặt hàng thuộc phạm vi kinh doanh. Nghiên cứu, xác định mặt dự định kinh doanh xuất khẩu về sự phù hợp và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường nước ngoài cũng như những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp xuất khẩu có những hướng dẫn kỹ thuật giúp cho người sản xuất có những điều chỉnh theo nhu cầu thị trường nước ngoài. Mặt khác, nghiên cứu nguồn hàng phải xác định được giá cả trong nước của hàng hoá so giá cả trên thị trường quốc tế.
Sau khi đã tính đủ giá mua cũng như chi phí thu mua vận chuyển, bao gói thuế. thì lợi nhuận thu về cho doanh nghiệp là bao nhiêu. Chỉ tiêu lợi nhuận có ý nghĩa quyết định tới chiến lược kinh doanh của từng doanh nghiệp xuất khẩu. Cuối cùng việc nghiên cứu nguồn hàng phải nắm được chính sách của Nhà nước về mặt hàng đó.
Mặt hàng đó có được phép xuất khẩu hay không hay thuộc hạn ngạch xuất khẩu không. Trong thực tế chính sách quản lý của Nhà nước đối với từng mặt hàng cụ thể luôn có những thay đổi do vậy việc nghiên cứu để dự báo những thay đổi có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp xuất khẩu. Một trong những bí quyết thành công trong kinh doanh là nghiên cứu và tìm hiểu cặn kẽ thị trường, dự đoán những xu hướng biến động của hàng hoá để hạn chế những rủi ro của thị trường. Tạo diều kiện cho doanh nghiệp lập kế hoạch tạo nguồn, khai thác ổn định nguồn hàng xuất khẩu trong khoảng thời gian hợp lý làm cơ sở chắc chắn cho việc ký kết và thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Phương pháp nghiên cứu thị trường Để nghiên cứu thị trường doanh nghiệp thương mại thường sử dụng hai phương pháp: Phương pháp 1: Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 13 SVTH: Phạm Hữu Lâm QTKD-TM K44 Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Viện TM và KT Quốc Tế Phương pháp nghiên cứu tại bàn hay nghiên cứu tại văn phòng là cách nghiên cứu thu thập thông tin qua tài liệu như sách báo, mạng internet, các tài liệu sẵn có của doanh nghiệp…. qua nguồn tài liệu trên doanh nghiệp có thể tìm hiểu được tình hình hàng hoá trên thị trường, khả năng cung ứng hàng hoá, nghiên cứu tại bàn giúp doanh nghiệp có cái nhìn khái quát về tình hình cung – cầu hàng hoá cần nghiên cứu trên thị trường. Đây là phương pháp dễ làm, thời gian tiến hành nhanh, chi phí thấp, nhưng đòi hỏi người nghiên cứu phải có chuyên môn vững, biết cách thu thập và đánh giá thông tin. Tuy nhiên phương pháp này có hạn chế là dựa vào tài liệu đã sẵn có nên có độ trễ so với thực tế.
Phương pháp 2: Phương pháp nghiên cứu tại hện trường là việc trực tiếp cử nhân viên trực tiếp đến tận nơi nghiên cứu, và trực tiếp thu thập các thông tin số liệu của thị trường, khách hàng, các nhà cung cấp, bằng cách điều tra trọng điểm, điều tra chọn mẫu, hay điều tra toàn bộ, thông qua các cuộc phỏng vấn, gửi phiếu điều tra, hội nghị khách hàng… nghiên cứu tại hiện trường có ưu điểm là thông tin sinh động, thực tế, hiện tại, độ chính xác cao, nhưng có nhược điểm là chi phí lớn, cán bộ đi thu thập thông tin phải vững về chuyên môn.2 Ký kết hợp đồng trong tạo nguồn hàng xuất khẩu Phần lớn hàng hoá được mua bán giữa các doanh nghiệp với các nhà sản xuất hoặc các hợp tác xã, hộ gia đình phải thông qua hợp đồng thu mua, đổi hàng, gia công. Dựa trên những thoả thuận tự nguyện các bên ký kết hợp đồng là cơ sở vững chắc đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thuờng. Những căn cứ để ký kết hợp đồng. Chính sách pháp luật của Nhà nước về quản lý kinh tế đối ngoại, ngoại thương.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 14 SVTH: Phạm Hữu Lâm QTKD-TM K44 Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Viện TM và KT Quốc Tế Hiệp định, nghị định thư giữa chính phủ các nước về buôn bán trao đổi hàng hoá xuất nhập khẩu và thanh toán. -Hạn nghạch xuất nhập khẩu và thanh toán. -Nhu cầu thị trường quốc tế, đơn đặt hàng, đơn trào hàng của bạn hàng, hợp đồng ngoại thương. -Khả năng sản xuất hàng hoá của các nhà sản xuất trong nước.
-Tên hàng, số lượng, quy cách, giá cả, các điều kiện giao hàng… Một số vấn đề cần lưu ý khi ký kết hợp đồng. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu bằng các hoạt động marketing để tìm kiếm các đối tác nước ngoài có nhu cầu về một mặt hàng nào đó trong nước có khả năng sản xuất ra được. Các doanh nghiệp có thể ký kết hợp đồng bán hàng với khách hàng nước ngoài, sau đó giao dịch để ký kết hợp đồng tạo nguồn hàng với các nhà sản xuất, các doanh nghiệp để thực hiện hợp đồng xuất khẩu hay còn gọi là hợp đồng ngoại thương. Hai loại hợp đồng này có nhiều đặc điểm giống nhau.
Hợp đồng ngoại thương là cơ sở cho hợp đồng thu mua tạo nguồn hàng. Doanh nghiệp xuất khẩu cần gặp trực tiếp những nhà sản xuất và cung cấp đầy đủ các thông tin về sản phẩm, những yêu cầu về chủng loại, kích cỡ công dụng, chất lượng cho họ và cùng bàn bạc với nhà sản xuất để tìm ra các vướng mắc trở ngại trong việc sản xuất và cung ứng hàng hoá.