CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI NHUẬN VÀ PHÂN TÍCH LỢI NHUẬN 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về lợi nhuận. Khái niệm lợi nhuận. Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế quan trọng phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN trong một thời kỳ nhất định.
Do vậy, để đạt được hiệu quả kinh doanh đòi hỏi DN phải xây dựng và thực hiện các chỉ tiêu kinh tế kế hoạch trong đó có chỉ tiêu lợi nhuận. Việc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch lợi nhuận trong DN có ý nghĩa rất quan trọng để thực hiện tái sản xuất kinh doanh mở rộng và đầu tư chiều sâu cho hoạt động kinh doanh, cải thiện nâng cao đời sống cho người lao động, thực hiện tốt nghĩa vụ với nhà nước. Theo CM kế toán số 17 Ban hành và công bố theo quyết định số 12/2005/QĐ BTC ngày 15/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính trang 454, định nghĩa: “Lợi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán”. Dưới gốc độ tài chính: “Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó là khoản chênh lệch giữa các khoản thu nhập thu được và các khoản chi phí đã bỏ ra để đạt được thu nhập đó trong một thời kỳ nhất định”.
(Giáo trình tài chính doanh nghiệp của PGS.TS Đinh Văn Sơn, trường Đại học Thương Mại, xuất bản năm 2006, trang 353). Vậy từ hai khái niệm trên ta có thể hiểu lợi nhuận là phần chênh lệch dôi ra giữa tổng doanh thu với tổng các khoản chi phí trong kỳ hoạt động kinh doanh. Kết cấu lợi nhuận. Lợi nhuận trong doanh nghiệp thương mại được hình thành từ các nguồn: - Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hoạt động đầu tư vốn nhằm tìm kiếm lợi nhuận theo những mục tiêu được xác định sẵn, bao gồm hai hoạt động sau: + Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh hàng hóa và dịch vụ: Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được hình thành từ việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp, những nhiệm vụ này GVHD: ThS Phạm Thị Quỳnh Vân 5 SVTH: Nguyễn Thị Kim Cúc Luan van Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại được ghi trong quyết định thành lập doanh nghiệp.
Bộ phận lợi nhuận này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp. + Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: Ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp còn có thể tham gia vào hoạt động đầu tư tài chính. Hoạt động tài chính là hoạt động đầu tư vốn ra bên ngoài doanh nghiệp như: góp vốn liên doanh liên kết; mua bán trái phiếu, cổ phiếu, cho thuê tài sản, lãi tiền gửi và lãi cho vay thuộc nguồn vốn kinh doanh…Các khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động này góp phần làm tăng tổng lợi nhuận cho doanh nghiệp. - Lợi nhuận từ hoạt động khác: Là các khoản lãi thu được từ các hoạt động riêng biệt khác ngoài những hoạt động sản xuất kinh doanh nói trên.
Những khoản lãi này phát sinh không thường xuyên, doanh nghiệp không dự kiến trước hoặc có dự kiến nhưng ít có khả năng thực hiện. Lợi nhuận khác thường bao gồm: lợi nhuận thu được từ các khoản phải trả không xác định được chủ nợ; thu hồi các khoản nợ khó đòi đã được duyệt bỏ; các khoản thu từ bán vật tư tài sản thừa sau khi đã bù trừ hao hụt mất mát, lãi thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản cố định; tiền được phạt; được bồi thường;… 1. Phương pháp xác định lợi nhuận. Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh: LN gộp CP LN hoạt DT hoạt CP hoạt CP bán = BH & + _ _ _ quản động KD động TC động TC hàng CCDV lý DN Trong đó: LN gộp BH & Tổng doanh thu BH Các khoản Giá vốn hàng = - - CCDV & CCDV giảm trừ DT bán Đối với hoạt động khác: Lợi nhuận từ Thu nhập từ hoạt Chi phí từ = - hoạt động khác động khác hoạt động khác GVHD: ThS Phạm Thị Quỳnh Vân 6 SVTH: Nguyễn Thị Kim Cúc Luan van Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại 1.
Vai trò của lợi nhuận. - Lợi nhuận có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp; một trong những mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp là lợi nhuận, nếu một doanh nghiệp bị thua lỗ liên tục, kéo dài thì doanh nghiệp sẽ sớm lâm vào tình trạng bị phá sản. - Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng đảm bảo cho doanh nghiệp tăng trưởng một cách ổn định, vững chắc, đồng thời cũng là nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước. - Lợi nhuận còn là nguồn lực tài chính chủ yếu để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp.
- Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh hiệu quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, việc giảm chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm sẽ làm cho lợi nhuận tăng lên một cách trực tiếp khi các điều kiện khác không đổi. Do đó, lợi nhuận là một chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Việc xác định chính xác lợi nhuận có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Nó đảm bảo phản ánh đúng kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm), là cơ sở cho việc đánh giá năng lực hoạt động của doanh nghiệp trên thương trường, đồng thời là cơ sở cho việc phân phối đúng đắn lợi nhuận tạo ra để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục.
Các chỉ tiêu phân tích lợi nhuận. Để đánh giá chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp người ta sử dụng các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận tuỳ theo yêu cầu đánh giá đối với các hoạt động khác nhau. Ta có thế sử dụng một số chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận sau đây: - Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần: Tỷ suất lợi nhuận trên DT thuần = Lợi nhuận trước (sau) thuế Doanh thu thuần Ý nghĩa: Cho biết một đồng doanh thu thuần đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt.
GVHD: ThS Phạm Thị Quỳnh Vân 7 SVTH: Nguyễn Thị Kim Cúc Luan van Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại - Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản: Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia lợi nhuận trước thuế và lãi vay cho giá trị tài sản bình quân theo công thức: Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản = Lợi nhuận trước (sau) thuế Tài sản bình quân Ý nghĩa: Cho biết một đồng giá trị tài sản doanh nghiệp sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao. - Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu = Lợi nhuận trước (sau) thuế Vốn chủ sở hữu bình quân Ý nghĩa: Phản ánh một đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả.
- Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí: Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí = Tổng lợi nhuận Tổng chi phí Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí bỏ ra thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nội dung nghiên cứu lợi nhuận trong doanh nghiệp. Ý nghĩa của việc nghiên cứu. Lợi nhuận của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Lợi nhuận được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng, đồng thời là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với nhà nước, lợi nhuận là một nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước thông qua việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp. Trên cơ sở đó bảo đảm nguồn lực tài chính của nền kinh tế quốc dân, củng cố tăng cường tiềm lực quốc phòng, duy trì bộ máy quản lý hành chính của nhà nước. Phân tích tình hình lợi nhuận nhằm mục đích nhận thức và đánh giá một cách đúng đắn, toàn diện và khách quan tình hình thực hiện các chỉ tiêu lợi nhuận của GVHD: ThS Phạm Thị Quỳnh Vân 8 SVTH: Nguyễn Thị Kim Cúc Luan van Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Thương Mại doanh nghiệp trong kỳ, qua đó thấy được mức độ hoàn thành số chênh lệch tăng giảm của các chỉ tiêu kế hoạch lợi nhuận của doanh nghiệp.
Đồng thời, phân tích lợi nhuận nhằm mục đích thấy được những mâu thuẫn tồn tại và những nguyên nhân ảnh hưởng khách quan cũng như chủ quan trong quá trình sản xuất kinh doanh để từ đó tìm ra được nhưng chính sách, biện pháp quản lý thích hợp nhằm tăng lợi nhuận. Phân tích lợi nhuận là công việc thường xuyên và vô cùng cần thiết không những đối với chủ sở hữu doanh nghiệp mà còn cần thiết đối với tất cả những đối tượng bên ngoài doanh nghiệp có quan hệ kinh tế và pháp lý với doanh nghiệp. Đánh giá được đúng thực trạng tài chính, chủ doanh nghiệp sẽ đưa ra các quyết định kinh tế thích hợp, sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả vốn và các nguồn lực. Phân tích lợi nhuận còn nhằm kiểm tra, đánh giá tình hình phân phối lợi nhuận và sử dụng lợi nhuận của doanh nghiệp, qua đó thấy được việc chấp hành các chế độ chính sách về phân phối lợi nhuận do Nhà nước và ngành quy định 1.
Nội dung phân tích lợi nhuận.1 Phân tích tổng hợp tình hình lợi nhuận theo các nguồn hình thành. - Mục đích phân tích: Nhằm nhận thức, đánh giá tổng quát tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế kế hoạch lợi nhuận và cơ cấu tỷ trọng lợi nhuận theo từng nguồn, qua đó thấy được mức độ hoàn thành, số chênh lệch tăng giảm.