CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI NHUẬN VÀ PHÂN TÍCH LỢI NHUẬN.Một số vấn đề lý luận cơ bản về lợi nhuận. - Lợi nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà DN bỏ ra để đạt được thu nhập đó từ các hoạt động của DN đưa lại trong một thời kỳ nhất định. ( Giáo trình Tài chính doanh nghiệp thương mại – NXB Thống kê- 2006- PGS.TS Đinh Văn Sơn) - Lợi nhuận kế toán: Theo chuẩn mực kế toán số 17 “Thuế thu nhập doanh nghiệp” (26 chuẩn mực kế toán Việt Nam, nxb Tài chính, 2008, tr.239) Lợi nhuận kế toán là lãi hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán. - Lợi nhuận là: kết quả kinh doanh là phần doanh thu còn lại sau khi đã bù đắp các khoản thuế và các khoản chi phí hợp lý phát sinh trong kỳ.
Kết quả kinh doanh có thể được hình thành từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hoạt động đầu tư tài chính hoặc hoạt động khác. - Công thức chung để xác định lợi nhuận: Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí Trong đó: + Tổng doanh thu: Là tổng các giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu. (Chuẩn mực số 14 – Doanh thu và thu nhập khác ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ tài chính) + Các khoản giảm trừ doanh thu (26 chuẩn mực kế toán Việt Nam, nxb Tài chính, 2008, tr.56), bao gồm: Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. SVTH: Nguyễn Thanh Hiền 5 GVHD: ThS.
Đặng Thị Thư Luan van Khóa luận tốt nghiệp Tường Đại học Thương Mại Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ trối thanh toán. + Giá vốn hàng bán: Phản ánh trị giá gốc của thành phẩm, hàng hóa, dịch vụ xuất bán bán trong kỳ (với doanh nghiệp thương mại, nó chính là trị giá mua + chi phí mua của hàng hóa bán ra). Khi xác định được doanh thu thì đồng thời giá trị sản phẩm, hàng hóa xuất bán cũng được phản ánh vào giá trị vốn để xác định kết quả (Giáo trình kế toán tài chính, trường ĐH Thương mại).
+ Chi phí bán hàng: Là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hóa cần thiết phát sinh liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ (Giáo trình nguyên lý kế toán, trường ĐH Thương mại, nxb thống kê, 2009, tr.134) + Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hóa cần thiết phát sinh ở bộ máy quản lý chung của doanh nghiệp gồm các chi phí quản lý kinh doanh, chi phí quản lý hành chính và chi phí chung khác liên quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp (Giáo trình nguyên lý kế toán, trường ĐH Thương mại, nxb thống kê, 2009, tr. Ý nghĩa của việc tăng lợi nhuận đối với doanh nghiệp. -Lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu của mọi hoạt động kinh doanh đều gắn liền với lợi nhuận và tất cả các doanh nghiệp đều mong muốn nâng cao lợi nhuận của mình lên mức cao nhất, các doanh nghiệp sẽ không tồn tại và phát triển được nếu như hoạt động sản xuất kinh doanh không mang lại lợi nhuận cho họ. -Lợi nhuận như là một đòn bẩy thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng nỗ lực phát triển.
Doanh nghiệp sử dụng những biện pháp nâng cao doanh thu, cát giảm chi phí nhằm tăng lợi nhuận. Khi lợi nhuận cao thì doanh nghiệp lại dùng để trang bị thiết bị máy móc, nhà xưởng nhằm nâng doanh thu để tăng lợi nhuận và cứ như vậy theo chu trình mục tiêu lợi nhuận. -Lợi nhuận ảnh hưởng đến tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có lợi nhuận, có nghĩa là doanh nghiệp không những nguồn vốn kinh doanh SVTH: Nguyễn Thanh Hiền 6 GVHD: ThS.
Đặng Thị Thư Luan van Khóa luận tốt nghiệp Tường Đại học Thương Mại được bảo toàn mà còn được tăng lên. Có vốn, doanh nghiệp có cơ hội thực hiện các dự án kinh doanh, từ đó doanh nghiệp sẽ nâng cao hơn nữa lợi nhuận của mình để ngày càng phát triển thì luôn phải mở rộng qui mô kinh doanh và nâng cao năng suất lao động. Vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển được hay không điều đó phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không.
Qua đó cho thấy, lợi nhuận đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh,vai trò đó được thể hiện như sau: - Lợi nhuận là điều kiện vật chất đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là nhằm tới mục tiêu lợi nhuận trong khuôn khổ của pháp luật. Xuất phát từ mục tiêu đó, trong kinh doanh các doanh nghiệp luôn tìm cho mình một con đường riêng tối ưu để có thể thoả mãn cao nhất nhu cầu của thị trường và đạt đến lợi nhuận tối đa. - Lợi nhuận là nguồn tài chính cơ bản để thực hiện phân phối trong nội bộ doanh nghiệp, nâng cao đời sống cho người lao động.
Góp phần tạo nên thành quả chung trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là lợi nhuận, người lao động mong muốn nhận được phần thưởng cho mình ngoài tiền công được hưởng. Kinh doanh có lợi nhuận giúp cho doanh nghiệp có nguồn để trích lập các quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi, tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động, tạo ra động lực thúc đẩy người lao động làm việc tốt hơn và đem lại hiệu quả cao trong tương lai. - Lợi nhuận là nguồn tài chính cơ bản để thực hiện quá trình tái sản xuất kinh doanh mở rộng của doanh nghiệp và của nền kinh tế xã hội. Hoạt động kinh doanh có lợi nhuận là điều kiện để doanh nghiệp có thể tích luỹ vốn, thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng đối với doanh nghiệp mình.
Mặt khác, khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có lợi nhuận thì nguồn thu của ngân sách Nhà nước sẽ tăng lên ( thể hiện ở thuế thu nhập doanh nghiệp), đáp ứng nhu cầu tích luỹ vốn để thực hiện quá trình tái đầu tư phát triển kinh tế theo chức năng của Nhà nước. Tóm lại, lợi nhuận có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, hơn thế nữa, lợi nhuận còn có vai trò quan trọng đối với toàn bộ nền SVTH: Nguyễn Thanh Hiền 7 GVHD: ThS. Đặng Thị Thư Luan van Khóa luận tốt nghiệp Tường Đại học Thương Mại kinh tế quốc dân, bởi lợi ích của mỗi doanh nghiệp bao giờ cũng gắn liền với lợi ích của Nhà nước, của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.4 Các nguồn hình thành lợi nhuận. Lợi nhuận của doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn sau Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bao gồm: + Lợi nhuận từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh hàng hóa dịch vụ được hình thành từ việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp, những nhiệm vụ này được ghi trong quyết định thành lập công ty.
Bộ phận lợi nhuận này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp. Lợi nhuận từ bán hàng Doanh thu bán hàng = _ Giá vốn hàng bán và cung cấp dịch vụ và cung cấp dịch vụ +Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: Ngoài lĩnh vực hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ, các doanh nghiệp còn có thể tham gia vào hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động tài chính là hoạt động đầu tư vốn ra bên ngoài doanh nghiệp. Lợi nhuận tài chính = Doanh thu tài chính – Chi phí tài chính – Thuế (nếu có) Trong đó: Doanh thu từ hoạt động tài chính gồm: - Tiền lãi: lãi cho vay, lãi tiền gửi, đầu tư trái phiếu, chiết khấu thanh toán được hưởng. - Thu nhập từ cho thuê tài sản, cho người khác sử dụng tài sản, bằng sáng chế, nhãn hiệu thương mại.
- Chênh lệch giữa giá bán, giá mua từ hoạt động mua bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn, mua bán ngoại tệ. - Cổ tức, lợi nhuận được chia từ đầu tư cổ phiếu, trái phiếu, góp vốn kinh doanh. - Thu từ kinh doanh bất động sản - Thu nhập từ các hoạt động đầu tư khác Chi phí tài chính gồm các khoản chi phí hoặc các khoản lỗ liên quan đến hoạt động đầu tư tài chính, bao gồm: - Lỗ do chuyển nhượng các khoản đầu tư ngắn hạn - Lỗ do chênh lệch tỷ giá ngoại tệ SVTH: Nguyễn Thanh Hiền 8 GVHD: ThS. Đặng Thị Thư Luan van Khóa luận tốt nghiệp Tường Đại học Thương Mại - Chi phí cho vay và đi vay vốn, mua bán ngoại tệ, chứng khoán, chi phí góp vốn liên doanh.
- Lãi tiền vay (đi vay) - Chiết khấu thanh toán cho người mua - Giá vốn đầu tư bất động sản, chi phí phát sinh từ hoạt động kinh doanh bất động sản. Lợi nhuận khác: Được hình thành từ những nguồn bất thường khác ngoài các hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư tài chính, là số chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác và các khoản chi phí khác ngoài dự tính của doanh nghiệp. Những khoản lãi này phát sinh không thường xuyên, doanh nghiệp không dự kiến trước được nhưng ít có khả năng thực hiện.