Tài liệu Y tế: Phân tích liên quan giữa gamma glutamyl transferase với một

Tài liệu nghiên cứu Phân tích liên quan giữa gamma glutamyl transferase với một số chỉ số sinh hóa và lâm sàng ở bệnh, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Y Đa Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học

2018

56
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Gamma Glutamyl Transferase và Bệnh Gút

Gamma glutamyl transferase (GGT) là một enzyme quan trọng trong cơ thể, có liên quan mật thiết đến bệnh gút và các rối loạn chuyển hóa. Bệnh gút là bệnh khớp do lắng đọng tinh thể monosodium urat, gây viêm khớp và các biến chứng nguy hiểm. Nghiên cứu tại Bệnh viện E cho thấy nhiều bệnh nhân gút có nồng độ GGT tăng cao, đặc biệt ở nam giới tuổi trung niên. Mối liên quan giữa gamma-GT với acid uric và các chỉ số sinh hóa khác đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán và đánh giá mức độ bệnh. Việc theo dõi nồng độ GGT giúp phát hiện sớm những rối loạn chuyển hóa liên quan đến gút, từ đó cải thiện chiến lược điều trị và phòng ngừa biến chứng.

1.1. Định Nghĩa và Vai Trò của Gamma Glutamyl Transferase

GGT hay gamma-glutamyl transferase là một enzyme có trong gan và thận, tham gia vào quá trình chuyển hóa các axit amin. Enzyme này được xem là chỉ số sinh hóa quan trọng phản ánh tình trạng chức năng gan và thận. Khi nồng độ GGT tăng, điều này có thể phản ánh tổn thương gan hoặc rối loạn chức năng thận. Trong bệnh nhân gút, sự tăng GGT thường kèm theo tăng acid uric, giúp bác sĩ đánh giá mức độ nặng của bệnh.

1.2. Liên Quan Giữa GGT với Acid Uric

Nghiên cứu phân tích liên quan giữa GGT và acid uricbệnh nhân gút cho kết quả đáng chú ý. Nồng độ AU máu tăng cao thường đi kèm với GGT tăng, đặc biệt ở những bệnh nhân không tuân thủ điều trị. Mối liên quan này gợi ý rằng tăng GGT có thể là dấu hiệu của rối loạn chuyển hóa nặng hơn. Việc kiểm soát nồng độ acid uricgiảm GGT là mục tiêu điều trị quan trọng.

II. Liên Quan GGT với Các Chỉ Số Sinh Hóa Khác

Ngoài acid uric, gamma-GT còn có mối liên quan với nhiều chỉ số sinh hóa máu khác ở bệnh nhân gút. Nghiên cứu tại Bệnh viện E năm 2018 phát hiện GGT tương quan với creatinine, cholesterol toàn phần, triglyceride và các chỉ số enzym gan như SGOT, SGPT. Những mối liên quan này cho thấy rằng tăng GGT không chỉ phản ánh tổn thương gan mà còn liên quan đến rối loạn chức năng thận và chuyển hóa lipid. Chỉ số BMI (chỉ số khối cơ thể) cũng có mối liên quan với GGT tăng, gợi ý mối liên hệ giữa thừa cân béo phì và tăng GGT. Những phát hiện này giúp bác sĩ hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh của gút.

2.1. Liên Quan GGT với Creatinine và Chỉ Số Thận

Creatinine là chỉ số quan trọng phản ánh chức năng thận, và GGT tăng thường kèm theo creatinine tăngbệnh nhân gút. Mối liên quan giữa GGT với creatinine cho thấy tổn thương thận ở những bệnh nhân này. Mức lọc cầu thận giảm khi GGT tăng cao, phản ánh suy thận từng bước. Việc theo dõi chỉ số này giúp dự phòng biến chứng sỏi thậnsuy thận.

2.2. Liên Quan GGT với Cholesterol và Chuyển Hóa Lipid

GGT tăng thường đi kèm với cholesterol toàn phần caotriglyceride tăngbệnh nhân gút. Rối loạn lipid máu này là yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hóa (HCCH). LDL-CHDL-C cũng thay đổi khi GGT tăng, làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch. Chỉ số BMI cao thường kèm theo GGT tăng, cho thấy thừa cân là yếu tố nguy cơ chính.

III. Liên Quan GGT với Chỉ Số Viêm Nhiễm

GGT tăng cũng liên quan mật thiết với các chỉ số viêm nhiễmbệnh nhân gút. Nghiên cứu cho thấy gamma-GT cao thường đi kèm với CRP tăng (C-reactive protein) và tốc độ máu lắng tăng. Những chỉ số viêm nhiễm này phản ánh mức độ viêm khớp gúttình trạng toàn thân. Số cơn gút cấp xảy ra trong một năm cũng tương quan với nồng độ GGT, bệnh nhân có GGT cao thường có cơn gút tái phát thường xuyên hơn. Hạt tophi (tích lũy tinh thể urat) cũng phổ biến hơn ở những bệnh nhân có GGT tăng cao. Điều này gợi ý rằng GGT có thể được sử dụng như một chỉ số tiên lượng về mức độ nặng của bệnh.

3.1. GGT và Protein Phản Ứng C

CRP (C-reactive protein) hay protein phản ứng Cchỉ số viêm nhiễm nhạy cảm, tăng khi có viêm khớp gút. GGT tăng đi kèm với CRP cao cho thấy mức độ viêm nặng. Bệnh nhân gútGGT cao thường có CRP tăng đáng kể, phản ánh phản ứng viêm toàn thân. Việc kiểm soát GGT giúp giảm CRPkiểm soát viêm.

3.2. GGT với Tốc Độ Máu Lắng và Tình Trạng Viêm

Tốc độ máu lắng (ESR) là chỉ số viêm nhiễm khác, thường tăng caobệnh nhân gútGGT tăng. Mối liên quan này cho thấy tính chất viêm của bệnh. Số lượng bạch cầu cũng tăng khi GGT cao, phản ánh phản ứng miễn dịch. Những chỉ số này giúp bác sĩ đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh gút.

IV. Ý Nghĩa Lâm Sàng và Ứng Dụng Điều Trị

Nghiên cứu phân tích liên quan giữa GGT với các chỉ số sinh hóa và lâm sàng tại Bệnh viện E đã chứng minh rằng gamma-GT là một chỉ số quan trọng trong đánh giá bệnh gút. Bệnh nhân gút tăng GGT thường có bệnh lý đi kèm nhiều hơn, đặc biệt là rối loạn chuyển hóatổn thương tạng. Yếu tố nguy cơ như thừa cân, uống rượutuổi cao đều liên quan đến GGT tăng. Việc kiểm soát GGT và các chỉ số liên quan là mục tiêu điều trị quan trọng để phòng ngừa biến chứngcải thiện tiên lượng. Các bác sĩ nên theo dõi thường xuyên GGT, creatinine, acid uric và các chỉ số viêm để đánh giá hiệu quả điều trịđiều chỉnh phác đồ cho phù hợp.

4.1. Sử Dụng GGT trong Chẩn Đoán và Theo Dõi

GGT có thể được sử dụng như một chỉ số chẩn đoán bổ trợ cho bệnh gút. Nồng độ GGT tăng gợi ý rối loạn chuyển hóa nặngtổn thương tạng đi kèm. Theo dõi GGT thường xuyên giúp đánh giá xem bệnh nhântuân thủ điều trịkiểm soát bệnh tốt hay không. Mục tiêu điều trịgiảm GGT xuống bình thường và kiểm soát các chỉ số liên quan.

4.2. Chiến Lược Can Thiệp và Phòng Ngừa Biến Chứng

Để giảm GGTbệnh nhân gút, cần kiểm soát acid uric, giảm cân, hạn chế rượutuân thủ điều trị. Chế độ ăn giàu purin nên hạn chế, thay vào đó tăng thực phẩm tốt cho thận. Thuốc có thể dùng để hạ acid uricbảo vệ gan thận. Kiểm soát tốt giúp giảm nguy cơ sỏi thận, suy thậnbệnh tim mạch.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Gút là bệnh khớp do lắng đọng vi tinh thể và rối loạn chuyển hóa các nhân purin có đặc điểm chính là tăng acid uric (AU) máu, gây lắng đọng tinh thể monosodium urat trong dịch khớp hoặc các mô. Trên lâm sàng, các triệu chứng chính của gút là viêm khớp, hạt tophi, bệnh thận do gút và sỏi tiết niệu [15]. Bệnh gút thường gặp ở nam giới tuổi trung niên, thời gian khởi phát bệnh là 30 tuổi nhưng tỷ lệ mắc bệnh tăng dần cả ở hai giới nam và nữ ở các nhóm tuổi cao hơn [7]. Tăng acid uric máu đã được biết từ rất lâu là yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh gút [34], sự lắng đọng của các tinh thể urat ở khớp gây ra viêm khớp gút, ở thận nguy cơ dẫn đến sỏi thận.

Hiện nay, tỷ lệ tăng acid uric trên thế giới cũng như ở Việt Nam chiếm tỷ lệ khá cao. Theo nghiên cứu của Quyền Đăng Tuyên (2001), tỷ lệ tăng acid uric máu là 22,4%; nghiên cứu của Lê Viết Hoàng (2014) tỷ lệ tăng acid uric máu là 26,7% [9,19]. Những năm gần đây, tại khoa Cơ xương khớp Bệnh viện E, nhiều bệnh nhân gút phải nhập viện. Ở bệnh nhân không tuân thủ điều trị và kiểm soát bệnh chưa tốt, nồng độ AU máu tăng cao dẫn đến có nhiều rối loạn kèm theo.

Ngoài chế độ ăn chứa nhiều purin và việc sử dụng một số thuốc (ethambutol, liều thấp aspirin. ), sử dụng rượu thường xuyên là yếu tố nguy cơ gây tăng uric máu và bệnh gút [26,35]. Gamma glutamyl transferase (Gamma-GT hay GGT) là enzyme gắn vào màng tế bào. Nồng độ gamma-GT trong huyết tương chủ yếu do gan sản xuất.

Đặc biệt, chỉ số xét nghiệm gamma-GT có vai trò quan trọng trong xác định nghiện rượu mạn tính. Gamma-GT trong máu bình thường hay tăng liên quan đến lượng sử dụng rượu thường xuyên ở những người nghiện rượu mạn tính. Vì vậy, gamma-GT có thể được sử dụng để theo dõi ngừng hoặc giảm uống rượu ở những bệnh nhân nghiện rượu [1,21,25]. Sử dụng rượu thường xuyên là yếu tố nguy cơ cao làm tăng nồng độ acid uric máu và khởi phát các cơn gút cấp bệnh nhân gút.

Mặt khác, chỉ số Gamma-GT tăng trên những bệnh nhân nghiện rượu mạn tính. Nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và tiên lượng bệnh trên bệnh nhân gút, chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích liên quan giữa gamma-glutamyl transferase với một 1 Phan.2018 số chỉ số sinh hóa và lâm sàng ở bệnh nhân gút khám và điều trị tại bệnh viện E năm 2018” với hai mục tiêu sau: 1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân gút tăng gamma- glutamyl transferase tại Bệnh viện E từ tháng 06/2017 đến tháng 03/2018. Phân tích mối liên quan giữa gamma-glutamyl transferase tới một số chỉ số sinh hóa và lâm sàng.

Bệnh gút và tăng acid uric máu 1. Khái niệm Bệnh gút là tình trạng viêm khớp do sự lắng đọng các tinh thể urat (Monodium urat - MSU) trong dịch khớp hoặc mô [7]. Thời gian bắt đầu từ đợt gút cấp đầu tiên đến khi trở thành gút mạn tính dao động từ 3-42 năm, với trung bình là 11,6 năm [12]. Dịch tễ Bệnh thường gặp ở các nước phát triển, chiếm khoảng 0,02-0,2% dân số.

Tỷ lệ mắc bệnh gút theo Khảo sát Sức khoẻ và Dinh dưỡng Quốc gia lần thứ ba (NHANES-III) là > 2% ở nam trên 30 tuổi và phụ nữ trên 50 tuổi. Trên 80 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh gút là 9% ở nam giới và 6% ở phụ nữ. Do đó, bệnh gút là nguyên nhân phổ biến nhất gây viêm khớp ở nam giới trên 40 tuổi. Các dữ liệu gần đây cho thấy tỷ lệ mắc bệnh gút đã tăng lên trong hai thập niên vừa qua do chế độ ăn, béo phì, hội chứng chuyển hóa và sử dụng thuốc như aspirin liều thấp và thuốc lợi tiểu.

Tỷ số nam và nữ là 2:1 đến 7:1 [12,38]. Trên thế giới tỷ lệ mắc gút ngày càng gia tăng và phổ biến. Theo thống kê: tỷ lệ mắc trung bình ở Mỹ là 3.4% [26], ở Liên minh châu Âu 3. Ở Việt Nam, bệnh gút chiếm 1,5% các bệnh về khớp điều trị nội trú tại khoa Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai, đứng hàng thứ tư trong các bệnh khớp điều trị nội trú thường gặp [12].

Tại khoa Nội cơ xương khớp Bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh gút chiếm khoảng 10 - 15% các bệnh khớp đến điều trị [18]. Nguyên nhân Nguyên nhân bệnh gút do tăng acid uric máu. Ngoài ra, các yếu tố kích thích là nguy cơ viêm khớp cấp do gút: chấn thương, phẫu thuật, bất động, ăn nhiều thức ăn chứa nhiều nhân purin và những thuốc làm tăng nồng độ urat [7]. Tiền sử gia đình (chiếm 25%), tuổi tác, giới tính hoặc ở phụ nữ mãn kinh sớm có nguy cơ cao mắc bệnh gút [33].

Chỉ số khối cơ thể và lượng tiêu 3 Phan.2018 thụ ancol là những yếu tố nguy cơ gây tăng uric máu và bệnh gút ở đa số các bệnh nhân [38]. Cơ chế bệnh sinh Ở nồng độ AU dưới 420µmol/l ( ở nam giới ) và pH 7,4, AU gần như hòa tan hoàn toàn dưới dạng ion (+) urat. Khi nồng độ AU trong máu lớn hơn 420µmol/l, vượt quá nồng độ hòa tan tối đa, urat kết tủa thành các tinh thể MSU. Khả năng gây viêm của tinh thể liên quan đến khả năng gắn vào các immunoglobulin và protein, đặc biệt là bổ thể và lipoprotein.

Phức hợp này gắn vào cơ quan thụ cảm ở bề mặt đại thực bào và tương bào, dẫn đến giải phóng và hoạt hóa các cytokine, yếu tố hóa học và các chất trung gian khác. Các đại thực bào sẽ thực bào tinh thể urat và phá hủy lysosome giải phóng arachidonat, collagenase, các gốc oxy hóa gây nên tình trạng viêm khớp [7]. Sự có mặt vi tinh thể urat tại mô mềm, bao gân tạo nên hạt tophi, và cuối cùng, viêm thận kẽ (bệnh thận do gút) là do tinh thể urat lắng đọng tại tổ chức kẽ của thận. AU niệu tăng và sự toan hóa nước tiểu dẫn đến sỏi tiết niệu trong bệnh gút [12].

Tinh thể urat dưới Hình 1. Tinh thể urat dưới kính hiển vi quang kính hiển vi phân học cực 1. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng a) Triệu chứng lâm sàng  Thể gút cấp tính: Được biểu hiện bằng những đợt viêm cấp tính của ngón chân cái (khớp bàn ngón).2018 Hoàn cảnh xuất hiện sau những bữa ăn nhiều thịt rượu, sau chấn thương, sau phẫu thuật… Khoảng 60-70% cơn gút cấp biểu hiện ở khớp bàn ngón chân cái. Ngón chân sưng to, phù nề, căng bóng, nóng đỏ xung huyết, trong khi các khớp khác bình thường.

Toàn thân có thể sốt nhẹ [2].  Thể gút mạn tính: Gút mạn tính tiến triển chậm và kéo dài, tăng dần, lúc đầu tổn thương ở bàn ngòn chân, gối khuỷu và bàn ngón tay. Thời gian tiến triển 10-20 năm, trong khi diễn biến mạn tính có thể ghép vào những đợt viêm cấp tính làm bệnh nặng [2]. Gút mạn tính có các biểu hiện : hạt tophi, bệnh khớp mạn tính do muối urat và biểu hiện tại thận.

Hạt tophi do tích lũy muối urat sodium kết tủa trong mô liên kết: sụn đầu khớp, đầu xương, phần mềm quanh khớp đặc biệt là ở quanh khớp gối, khớp khuỷu, dọc theo gan ở bàn thay và bàn chân, quanh các khớp đốt ngón gần và ngón xa ở bàn tay. Tỷ lệ hình thành phụ thuộc vào mức độ và thời gian tăng AU máu. Hạt tophi mang các đặc điểm: không đau, rắn, tròn, số lượng và kích thước thay đổi, da phủ trên đó bình thường, mỏng, có thể nhìn thấy màu trắng nhạt của các tinh thể urat. Bệnh khớp mạn tính do tích lũy muối urat trong mô cạnh khớp, trong sụn vả trong xương, là nguyên nhân gây thoái hóa sụn khớp, hủy đầu xương và tăng sinh màng hoạt dịch [7,12].

Biểu hiện tại thận gây ra sỏi urat (10-20% trường hợp gút). Sỏi acid uric ít cản quang, chụp X quang thường khó thấy, phát hiện qua siêu âm hoặc chụp thận sau tiêm thuốc cản quang (UIV). Tổn thương thận do lắng đọng urat ở thận kẽ gây protein niệu không thường xuyên, hồng cầu và bạch cầu trong nước tiểu, dần dần dẫn đến suy thận [2,21]. b) Triệu chứng cận lâm sàng AU máu cao > 420µmol/l đối với nam giới, tuy nhiên khoảng 40% bệnh nhân có cơn gút cấp nhưng AU máu bình thường [12].

Mai Thị Minh Tâm (2009) nghiên cứu nồng độ acid uric máu trong cơn gút cấp: nồng độ 5 Phan.U máu trung bình trong cơn gút cấp là 441,6mmol/l ± 83,2, tỷ lệ AU máu bình thường trong cơn gút cấp chiếm 31,3 % [15]. Định lượng AU niệu 24h nhằm xác định tăng bài tiết urat (>600mg/24h). Khi AU niệu tăng cao dễ gây sỏi urat và không được dùng nhóm thuốc hạ AU theo cơ chế tăng đào thải. Xét nghiệm dịch khớp: tìm thấy tinh thể urat trong dịch khớp, dịch khớp viêm giàu tế bào (2000 tế bào/mm3), chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính [7,20].

Các xét nghiệm khác: tốc độ máu lắng tăng, CRP bình thường hoặc tăng. X-quang: giai đoạn đầu bình thường, giai đoạn muộn có thể thấy các khuyết xương hình hốc ở đầu xương, hẹp khe khớp, gai xương. Chẩn đoán xác định Tiêu chuẩn chẩn đoán gút của Bennett và Wood 1968 a. Hoặc tìm thấy tinh thể acid uric trong dịch khớp hay trong các hạt tophi.

Hoặc tối thiểu có trên 2 trong các tiêu chuẩn sau đây: - Tiền sử hoặc hiện tại có tối thiểu 2 đợt sưng đau của một khớp với tính chất khởi phát đột ngột, sưng đau dữ dội và khỏi hoàn toàn trong 2 tuần. - Tiền sử hoặc hiện tại có 1 đợt sưng đau khớp bàn ngón chân cái với các tính chất như trên. - Có hạt tô phi. - Đáp ứng tốt với Colchicine (giảm viêm, giảm đau trong vòng 48h) trong tiền sử hoặc hiện tại.

Chẩn đoán xác định khi có tiêu chuẩn a hoặc ít nhất 2 yếu tố của tiêu chuẩn b. Tăng acid uric máu 1. Định nghĩa tăng acid uric máu [12]. Tăng acid uric máu khi nồng độ AU vượt quá giới hạn tối đa của độ hòa tan của urat trong huyết thanh.

Cụ thể: - Nam > 420 µmol/l. Dịch tễ học Tăng acid uric máu thường gặp với tỷ lệ dao động từ 2,6% đến 47,2% trong các chủng tộc người khác nhau [12]. Trên thế giới tỷ lệ tăng acid uric chiếm khá cao dân số. và cộng sự (2011) nghiên cứu tỷ lệ tăng acid uric máu của 1.945 đối tượng đến khám Bangkok - Thái Lan: tỷ lệ tăng acid uric máu trong dân số nghiên cứu là 24,4%, phổ biến nhất ở nam giới so với phụ nữ (59% so với 11%, p <0,001) [39].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ