Mở đầu: Giới thiệu đề tài, trình bày mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Tổng quan: Một số tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu, có thể kế thừa các phương pháp thực hiện đề tài. Khái quát một số ý chính về tình hình liên kết, sản xuất và tiêu thụ lúa tại huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu; Cơ sở lý luận, trình bày các phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong đề tài.
Kết quả và thảo luận: Rút ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa của nông hộ thông qua phân tích các số liệu thu thập được. Qua đó đề xuất giải pháp cải thiện liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa ở huyện Cần Đước, tỉnh Long An. 3 Downloaded by MON HOANG (monmon3@gmail.com) lOMoARcPSD|39222806 Chương 5. Kết luận và kiến nghị: Đúc kết lại nội dung, đề nghị, mục tiêu đã nghiên cứu.
4 Downloaded by MON HOANG (monmon3@gmail.com) lOMoARcPSD|39222806 CHƯƠNG II TỔNG QUAN 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu có liên quan 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước Theo La Nguyền Thùy Dung và Mai Văn Nam (2015) trong bài báo khoa học “Phân tích hiệu quả tài chính của hộ sản xuất lúa theo mô hình liên kết với doanh nghiệp tỉnh An Giang.” Đã tập trung phân tích, so sánh các chỉ tiêu về tài chính của các nông họ tham gia mô hình liên kết với các nông hộ không tham gia mô hình liên kết sản xuất lúa giữa nông hộ với doanh nghiệp ở tỉnh An Giang. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn vùng nghiên cứu với 4 huyện bao gồm huyện Châu Thành, Châu Phú, Tịnh Biên và Chợ Mới, trong đó các huyện Châu Thành, Châu Phú và Chợ Mới là 3 huyện ứng dụng mô hình sản xuất lúa theo hướng mới là cánh đồng mẫu lớn, còn huyện Tịnh Biên chưa áp dụng mô hình liên kết.
Lựa chọn nghiên cứu 4 khu vực trên nhằm đảm bảo việc thu nhập số liệu để áp dụng phương pháp so sánh giữa tham gia và không tham gia liên kết một cách khách quan. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn áp dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và phân tích số liệu sơ cấp của 350 nông hộ, sau đó sàn lọc lại còn 338 nông hộ, trong đó có 126 nông hộ sản xuất lúa có tham gia liên kết với doanh nghiệp. Các số liệu được xử lí và phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả với các tiêu chí như giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, tần suất. Ngoài ra, phương pháp kiểm định tham số trung bình hai mẫu độc lập (Independent – Sample ) cũng được áp dụng trong nghiên cứu dựa trên các chỉ tiêu bao gồm các loại chi phí đầu tư, năng suất, giá bán, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về năng suất bình quân của hai nhóm hộ. Ở nhóm nông hộ tham gia liên kết có năng suất đạ 8,34 tấn/ha, còn phía nông hộ không tham gia liên kết đạt 7,73 tấn/ha, mức chênh lệch là 0,61 tấn/ha trong vụ Đông Xuân. Giá bán của hai nhóm nông hộ cũng có sự chênh lệch khi trung bình giá 5 Downloaded by MON HOANG (monmon3@gmail.com) lOMoARcPSD|39222806 lúa của hộ có liên kết dao động từ 5.66 đồng/kg đến 5.349,61 đồng/kg, còn bên không liên kết có giá bán trung bình dao động từ 4.682,69 đồng/kg đến 5.007,68 đồng/kg qua 3 vụ trong năm. Không chỉ lợi nhuân, về chỉ tiêu doanh thu qua 3 vụ trong năm, trung bình nhóm nông hộ tham gia liên kết có doanh thu cao hơn nhóm hộ không liên kết với mức chênh lệch dao động từ 2.750,27 đồng/ha đến 6.
Qua đó cho thấy việc hợp tác liên kết của nông hộ với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ lúa đã đem lại hiệu quả tài chính cao hơn cho nông hộ, giúp giảm chi phí, tăng lợi nhuận, hạn chế rủi ro và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Không chỉ thế, mô hình liên kết còn giúp các nông hộ sản xuất tốt và an toàn hơn, có kỹ năng canh tác tốt hơn và ứng dụng tốt khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa. Theo Nguyễn Văn Thành và cộng sự (2020) trong bài báo khoa học “Thực trạng hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa hữu cơ ở xã Thủy Phù, thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên Huế.” Đã phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa hữu cơ cũng như đánh giá thực trạng hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ lúa hữu cơ của các nông hộ tại xã Thủy Phù, thị Xã Hương Thủy, Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu sử dụng số liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát 60 hộ sản xuất lúa hữu cơ ở xã Thủy Phù bằng bảng câu hỏi bán cấu trúc kết hợp xử lí số liệu bằng phần mềm SPSS 18 và phương pháp thống kê mô tả để đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa hữu cơ ở địa bàn nghiên cứu thông qua các chỉ tiêu: tần suất, tỷ lệ, trung bình và độ lệch chuẩn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ sản lượng lúa được tiêu thụ theo hợp đồng trung bình là 80% và tỷ lệ hộ thực hiện cam kết hợp đồng trung bình là 96,5% trong thời gian từ 2015 đến 2018. Liên kết giữa nông hộ trong sản xuất và tiêu thụ lúa hữu cơ được thực hiện chủ yếu thông qua việc trao đổi thông tin về kỹ thuật sản xuất, trao đổi thông tin về đầu vào và đầu ra. Tuy nhiên, liên kết trên chưa được nông hộ quan tâm. Mặt khác, đối với liên kết giữa hộ với Công ty/doanh nghiệp được thực hiện khá chặt chẽ thông qua hợp đồng.
Nhìn chung, các điều khoản được ghi trong hợp đồng liên kết khá chặt chẽ, đặc biệt là điều khoản về giá cả và thời điểm bán sản phẩm; Điều khoản về xử lý rủi ro chưa được cụ thể trong hợp đồng. 6 Downloaded by MON HOANG (monmon3@gmail.com) lOMoARcPSD|39222806 Theo Trần Quốc Nhân và Võ Khánh Duy (2022) trong “Hiện trạng và giải pháp thúc đẩy nông dân tham gia liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất lúa ở tỉnh Hậu Giang.” Xác định các nguyên nhân khiến nông dân không mạnh dạn tham gia liên kết sản xuất với doanh nghiệp và phân tích một số khác biệt về đặc điểm kinh tế - xã hội và hiệu quả sản xuất lúa giữa hộ liên kết và không liên kết. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập bảng hỏi cấu trúc và phân tích số liệu từ 160 hộ sản xuất lúa thu được từ phương pháp chọn mẫu thuận tiện và có chủ đích tại huyện Châu Thành A và huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang vào năm 2020, trong đó 80 hộ thực hiện liên kết và 80 hộ không thực hiện liên kết, qua sàn lọc, nghiên cứu chỉ sử dụng 75 hộ liên kết và 80 hộ không liên kết. Số liệu thu được được phân tích bằng phương pháp t-test để kiếm tra sự khác biệt trung bình giữa nhóm nông hộ không tham gia liên kết và tham gia liên kết về đặc điểm nông hộ và kết quả sản xuất.
Bên cạnh đó, phương pháp định tính được sử dụng để xác định các nguyên nhân khiến nông dân không tham gia liên kết. Cùng với đó, phương pháp thảo luận nhóm cũng được áp dụng để xây dựng các chỉ tiêu lợi ích của mô hình liên kết, lý do nông dân tham gia cũng như không tham gia liên kết với doanh nghiệp. Kết quả thu được cho thấy tổng chi phí của nhóm hộ tham gia liên kết là 15,323 triệu đồng/ha thấp hợn so với các hộ không liên kết là 15,645 triệu đồng/ha với mức chênh lệch là 0,022 triệu đồng/ha. Trong khi đó, các chỉ tiêu về năng suất, giá bán, doanh thu, lợi nhuận đều cao hơn so với phía nông hộ không tham gia liên kết.
Nông dân có nhiều lý do khác nhau khi quyết định liên kết hay không liên kết với doanh nghiệp. Những lý do chính nông dân tham gia liên kết như mong muốn có đầu ra ổn định, giá bán cao và đạt lợi nhuận cao và yếu tố tác động bên ngoài vận động tham gia. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều nông dân không tham gia liên kết và nguyên nhân được tác giả chỉ ra bao gồm thói quen hay tập quán sản xuất của người dân, doanh nghiệp thường không thanh toán tiền ngay sau khi ong om lúa, thủ tục rườm rà và yêu cầu cao về qui trình sản xuất, cuối cùng là do những yếu tố khách quan bên ngoài. Để giải quyết vấn đề trên tác giả đưa ra các giải pháp như các cơ quan cấp tỉnh cần hỗ trợ và củng cố lại hoạt động cho các hợp tác xã hoạt động tốt hơn để thu hút nhiều người dân tham gia vào.
Ban lãnh đạo hợp tác xã cần chủ động liên kết với doanh nghiệp 7 Downloaded by MON HOANG (monmon3@gmail.com) lOMoARcPSD|39222806 và cần thông tin công khai các thành viên cũng như nông dân không tham gia hợp tác xã biết. Nông dân cần thay đổi tư duy sản xuất theo thị trường để phù hợp với bối cảnh hiện nay. Cuối cùng, doanh nghiệp cần linh hoạt trong việc thực hiện liên kếtcho phù hợp với điều kiện của nông dân, cần thanh toán tiền ngay cho nông dân sau khi ong om lúa. Theo Nguyễn Đình Phúc và cộng sự (2017) trong bài báo “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ mía nguyên liệu của các hộ trồng mía với công ty mía đường nhiệt điện Gia Lai” đã cho ta thấy hoạt động sản xuất mía hằng năm cũng như hiệu quả kinh tế mà việc sản xuất và tiêu thụ mía đã đem lại cho các nông hộ trồng mía.
Nghiên cứu thu thập số liệu sơ cấp thông qua điều tra chọn mẫu phi ngẫu nhiên 100 hộ nông dân trồng mía tập trung chủ yếu ở vùng mía nguyên liệu huyện Phú Thiện tỉnh Gia Lai. Số liệu thu được được phân tích bằng phương pháp phân tích định lường hồi quy Logist để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng quyết định tham gia mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ mía nguyên liệu của các nông hộ trồng mía với Công ty mía đường Nhiệt điện Gia Lai. Nghiên cứu chỉ ra rằng mía nguyên liệu được xem là cây trồng chủ lực trong sản xuất nông nghiệp của địa phương. Không chỉ thế, nghiên cứu còn chỉ ra sự chênh lệch về năng suất và lợi nhuận mía của nông hộ có tham gia mô hình liên kết với nhà máy đường cao hơn so với những nông hộ không tham gia mô hình liên kết.