Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Vấn đề quản trị nước ở khu tưới Đức Hòa, tỉnh Long An" do nghiên cứu sinh Nguyễn Minh Nguyệt thực hiện tại Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2023, thuộc chuyên ngành Nhân học (mã số: 62 31 03 02) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Chính và PGS. Tessier Olivier.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo báo cáo của tác giả, khoảng 80% diện tích đất canh tác tại Việt Nam, chủ yếu là diện tích trồng lúa, đã được trang bị cơ sở hạ tầng thủy lợi. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ có khoảng 50% diện tích canh tác trong các hệ thống thủy lợi được cấp nước tương đối đầy đủ. Từ giác độ nhân học văn hóa – xã hội, ngoài những hạn chế về mặt thiết kế kỹ thuật, vấn đề quản trị nước của các công ty quản lý khai thác công trình thủy lợi (IMC) và của chính người dùng nước còn nhiều điểm bất cập. Các vấn đề liên quan đến việc xã hội hóa công tác vận hành, sự tham gia của nông dân vào quy trình xây dựng, vận hành, bảo trì công trình cũng như các xung đột nảy sinh trong quá trình này hầu như chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm phục vụ đổi mới mô hình quản trị.

Khu tưới Đức Hòa (tỉnh Long An) thuộc Dự án Thủy lợi Phước Hòa – dự án được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt báo cáo tiền khả thi năm 2002 nhằm lấy nước từ Sông Bé cấp cho Bình Dương, Bình Phước và chuyển nước bổ sung cho hồ Dầu Tiếng phục vụ Tây Ninh, Long An và Thành phố Hồ Chí Minh. Dự án được triển khai từ năm 2004 và hoàn thành năm 2016 với mức đầu tư thực tế đạt 337,62 triệu USD (trong đó vốn vay Ngân hàng Phát triển châu Á - ADB là 145 triệu USD, Cơ quan Phát triển Pháp - AFD là 46 triệu USD). Mặc dù là công trình mới, khu tưới Đức Hòa đối mặt với nhiều thách thức đặc thù: nằm tiếp giáp Thành phố Hồ Chí Minh, khu vực này có tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt về quỹ đất và nguồn nước giữa nông nghiệp với công nghiệp và sinh hoạt; đồng thời, cư dân địa phương chưa có tập quán sử dụng nguồn nước mặt dẫn từ hệ thống kênh mương thủy lợi tập trung.

Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra rằng Nhân học phát triển nói chung và nghiên cứu nhân học trong lĩnh vực thủy lợi tại Việt Nam còn ít được chú ý. Các nghiên cứu nhân học trước đây chủ yếu tập trung vào tri thức dân gian hoặc khía cạnh lịch sử, trong khi các chuyên gia kỹ thuật và môi trường lại thiếu vắng góc nhìn văn hóa – xã hội trong quy hoạch và quản lý nguồn nước.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là phân tích các mô hình quản trị nước hiện hành, thảo luận sự khác biệt trong quan điểm của các chủ thể quản trị nước tại Dự án Thủy lợi Phước Hòa, làm rõ sự hình thành mô hình quản trị hiện thời, quá trình tương tác giữa các bên liên quan và phản hồi từ những người thực hành quản trị cũng như người sử dụng nước ở khu tưới Đức Hòa, từ đó tìm kiếm cơ sở cho chính sách quản trị bền vững, hiệu quả nguồn nước thủy lợi.

Để đạt được mục tiêu này, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • a) Tìm hiểu tri thức quản trị thủy lợi ở Việt Nam nói chung, sự khác biệt trong quan điểm quản trị nước của các bên liên quan đến Dự án Thủy lợi Phước Hòa, và quá trình thương thảo để đi đến nhận thức chung về mô hình quản trị nước ở dự án này.
  • b) Nghiên cứu quá trình triển khai mô hình quản trị nước ở khu tưới Đức Hòa, mối quan hệ giữa Nhà nước với cách thức tổ chức mô hình quản trị nước các cấp, các tổ đội dùng nước, và tương tác giữa các chủ thể trong quá trình vận hành mô hình.
  • c) Trên cơ sở tìm hiểu tương tác giữa các tác nhân trong dự án, giữa Nhà nước và người dân, giữa thể chế chính thức và không chính thức, cùng sự phản hồi của các hộ dùng nước và chính quyền cơ sở, phân tích những vấn đề đang đặt ra đối với mô hình quản trị hiện hành, từ đó rút ra những ngụ ý thực tiễn cho giải pháp quản trị hiệu quả nguồn nước ở các khu tưới.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án giải quyết 3 nhóm câu hỏi nghiên cứu:

  1. Cơ quan thực hiện dự án, các nhà cung cấp vốn quốc tế và người sử dụng nước có quan điểm như thế nào về mô hình quản trị nước ở khu tưới? Quá trình triển khai mô hình này trên thực tế gặp phải những thách thức nào? Bối cảnh kinh tế, văn hóa và chính trị tại địa phương có tác động như thế nào đến quá trình triển khai mô hình quản trị nước tại khu tưới?
  2. Tương tác giữa các bên trong quá trình xây dựng, vận hành và khai thác khu tưới và những phản hồi của họ đối với mô hình quản trị nước tại khu tưới là như thế nào? Động cơ và bản chất của những phản hồi này là gì, các cách thức và mức độ phản đối hay đồng thuận của người dùng nước đã diễn ra như thế nào?
  3. Những phản hồi từ cơ sở có tác động như thế nào đối với sự thay đổi trong phương thức quản trị nước ở khu tưới Đức Hòa và các cơ quan có trách nhiệm đối với khu tưới đã có động thái tiếp thu, xử lý như thế nào? Những bài học nào có thể rút ra từ thực tiễn của khu tưới Đức Hòa để quản trị có hiệu quả hơn nguồn nước thủy lợi nói riêng và nguồn nước nói chung ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản trị nước từ giai đoạn xây dựng công trình, vận hành và duy trì hiệu quả công trình thủy lợi; các tác nhân tham gia vào quản trị nước tại địa phương (đội triển khai mô hình quản lý tưới của dự án, cơ quan nhà nước cấp xã và ấp, cơ quan quản lý tưới địa phương CMEI, các hộ sử dụng nước, cùng các cơ quan cấp huyện, tỉnh và trung ương).
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ 11 xã thuộc khu tưới Đức Hòa, trong đó tập trung nghiên cứu sâu xã Tân Mỹ (huyện Đức Hòa, tỉnh Long An) – nơi đặt đầu mối chia kênh chính thành hai kênh cấp 1 (kênh N2 và N3) dẫn nước vào toàn hệ thống và là khu vực chịu tác động đô thị hóa rõ rệt. Đồng thời, luận án đặt địa bàn Đức Hòa trong mối tương quan so sánh với khu tưới Tân Biên (tỉnh Tây Ninh) cùng thuộc Dự án Thủy lợi Phước Hòa.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ khi khởi công xây dựng công trình cho đến khi vận hành (2010–2019), trong đó tập trung sâu vào giai đoạn hệ thống chính thức tiếp nhận và dẫn nước tưới từ năm 2016 đến năm 2019.
Thông số Dữ kiện trong luận án
Tên công trình nghiên cứu Luận án Tiến sĩ Nhân học: "Vấn đề quản trị nước ở khu tưới Đức Hòa, tỉnh Long An"
Nghiên cứu sinh & Cơ sở đào tạo Nguyễn Minh Nguyệt; Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN
Dự án mẹ Dự án Thủy lợi Phước Hòa (phê duyệt tiền khả thi năm 2002, thi công 2004–2016)
Tổng mức đầu tư dự án 296,26 triệu USD (dự toán ban đầu), tăng lên 337,62 triệu USD khi hoàn thành
Nguồn tài trợ quốc tế ADB (145 triệu USD), AFD (46 triệu USD)
Địa bàn khảo sát trọng điểm Xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (trong tổng số 11 xã của khu tưới)
Khung thời gian nghiên cứu thực địa Tháng 9/2016 đến tháng 11/2019

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại các nghiên cứu đi trước về quản trị tài nguyên nước và thủy lợi thành 3 nhóm tiếp cận chính:

Tiếp cận quản trị nước từ tri thức dân gian

Các công trình trong nhóm này tập trung vào kinh nghiệm trị thủy, quy định luật tục và các nghi lễ tâm linh gắn với nguồn nước:

  • Kinh nghiệm trị thủy: Flanagan & Laituri (2004) chỉ ra tầm quan trọng của yếu tố văn hóa trong quản trị tài nguyên nước ở cộng đồng bản địa châu Mỹ. Sillitoe (1998, dẫn theo Lâm Bá Nam, 2010) nhận định tri thức bản địa thích ứng linh hoạt theo thời gian và không gian. Tại Việt Nam, Cầm Trọng (1978) mô tả hệ thống mương, phai, lái, lín, cọn nước của người Thái vùng Tây Bắc. Đặng Thị Oanh (2008) phân tích kỹ thuật dẫn nước và tiêu úng trên ruộng bậc thang của người Hà Nhì ở Lai Châu và Lào Cai. Nguyễn Trường Giang (2001) nghiên cứu biểu tượng Thủy Xá – Hỏa Xá và tiền tố "Ea" trong văn hóa Tây Nguyên. Phạm Xuân Phú và cộng sự (2017) khảo sát tập quán "sống chung với lũ", các dấu hiệu dự báo nước lũ qua màu nước và sinh vật của nông dân đồng bằng sông Cửu Long. Nguyễn Tiến Đông (2019) nghiên cứu kỹ thuật tìm mạch nước ngầm và cấu trúc giếng vuông của người Chăm tại Nam Trung Bộ.
  • Quy tắc luật tục: Nghiên cứu quốc tế của Adjakloe (2014, 2021) tại Ghana, Hicks & Pena (2010), Beckmann và cộng sự (1997), Gondo và cộng sự (2019), cùng Tuyên bố của Liên Hợp quốc về quyền của người bản địa (2008) khẳng định hiệu lực của các chuẩn mực bất thành văn trong điều tiết hành vi dùng nước. Tại Việt Nam, Hoàng Văn Quynh (2015) bàn về luật tục bảo vệ môi trường; Bùi Xuân Trường (1999) dẫn chứng mức phạt bằng bạc trắng của người Mông đối với hành vi làm bẩn hoặc đầu độc nguồn nước; Ngô Đức Thịnh (1998, 1999) phân tích quy định bảo vệ rừng đầu nguồn, cấm phá phai mương của người Thái và bảo vệ nguồn nước của người Êđê, J'rai, M'nông; Cầm Trọng & Phan Hữu Dật (1995) ghi nhận niềm tin về ma đầu nguồn của người Thái; báo cáo của Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Tài nguyên nước (2013) ghi nhận tục thả cá tái tạo nguồn lợi thủy sản tại ấp Vàm Nao (An Giang).
  • Nghi lễ tâm linh: Nghiên cứu về lễ Banyu Pinaruh tại Bali, lễ Chol Chnam Thmay của người Khmer, tục tế thần nước của người Maya, cùng các phân tích của Rap (2017) và Nicholson-Sanz (2020) tại Peru về vai trò của biểu tượng và cảm xúc trong quản trị nước. Tại Việt Nam, Lê Bao Vinh (2013) khảo cứu tư duy lưỡng phân đất – nước, tục thờ Thủy thần hình rắn; Trần Trọng Dương (2017) phân tích tục thờ Bà Thủy Long ở đồng bằng sông Cửu Long.

Tiếp cận quản trị nước từ quan điểm lịch sử

Các nghiên cứu lịch sử làm rõ mối quan hệ giữa nhà nước và hoạt động thủy lợi: Salem và cộng sự (2005) khảo sát lịch sử 4.000 năm quản trị nước tại Tunisia; Kuks (2004) ghi nhận mô hình Ban quản lý tài nguyên nước tại Hà Lan hình thành từ thế kỷ 13; Karl Wittfogel (1957) đề xuất thuyết "phương thức sản xuất châu Á" gắn đại công trình thủy lợi với nhà nước chuyên chế phương Đông; Fanchette (2004) xem xét vai trò của nhà nước trong bảo vệ đê điều châu thổ sông Hồng.

Tại Việt Nam, các tác giả Phan Khánh (1981, 2014), Phạm Ái Phương (1989), Mai Văn Hai & Bùi Xuân Đính (1997), Tessier (2008, 2013) khai thác sử liệu triều Nguyễn (Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ) để phân tích vai trò trị thủy gắn với quyền lực thiên mệnh của hoàng đế và nguồn thu thuế nông nghiệp. Đỗ Đức Hùng (1997) phân tích cơ chế phân cấp thời Gia Long và Minh Mệnh: nhà nước quản lý công trình đê và cống dẫn nước lớn; công trình nhỏ (rộng từ 4 thước trở xuống) và việc sửa cống cũ do làng xã tự huy động kinh phí xã hội hóa. Ở cấp làng xã, hương ước điều chỉnh việc đắp đê bối, bổ dịch đinh nam từ 18 đến 50 tuổi và bầu cử các chức danh chuyên trách thủy lợi như thủ lộ, khán thủ, thủ nậu, xeo trưởng.

Tiếp cận quản trị nước từ quan điểm chính trị – xã hội

Nhóm nghiên cứu này nhìn nhận phân phối nước là vấn đề thể chế và quyền lực (UNDP, 1997; Rogers và cộng sự, 2003; Zwarteveen và cộng sự, 2017; FAO & Hội đồng Nước Thế giới, 2018). Các tác giả theo dõi sự chuyển biến mô hình: từ quản lý công tập trung giai đoạn trước 1980 (Makkaoui, 2009), sang hợp tác công – tư (PPP) trong thập niên 1990 (Breuil, 2004), và phòng chống tham nhũng ngành nước (Jacobson và cộng sự, 2013).

Về mặt lý thuyết thể chế, luận án điểm lại cuộc tranh luận giữa hai trường phái:

  • Trường phái quản lý tập trung từ trên xuống dựa trên luận điểm về tính phức tạp của Wittfogel (1957) và giả thuyết "bi kịch nguồn lực chung" của Garrett Hardin (1968).
  • Trường phái quản trị phi tập trung và dựa vào cộng đồng: Elinor Ostrom (1992, đạt giải Nobel Kinh tế năm 2009) cùng các học giả Coward (1977), Wade (1988), Tang (1992), Mabry (1996), Lam (1998), Svendsen & Nott (2000), Shivakoti & Ostrom (2002), Araral (2009) chứng minh rằng các nhóm người dùng nước quy mô nhỏ có khả năng tự tổ chức và vận hành tài nguyên chung hiệu quả hơn nhà nước độc quyền. Từ đây, mô hình Quản lý tưới có sự tham gia (PIM) được Ngân hàng Thế giới chuẩn hóa (Groenfeldt và cộng sự, 1997). Gần đây, trước bối cảnh biến đổi khí hậu, các mô hình mới xuất hiện như Quản trị nước thích ứng (Cosens và cộng sự, 2012; ISET, 2020) và Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) kế thừa từ 4 nguyên tắc Dublin năm 1992 (Kayser và cộng sự, 2015).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Qua tổng quan, tác giả xác định 3 khoảng trống lớn:

  1. Thiếu vắng các nghiên cứu về khía cạnh kinh tế và sự vận hành thực tế của tri thức địa phương cấp cơ sở (cấp ấp) trong các hệ thống thủy nông hiện đại ở Nam Bộ.
  2. Các nghiên cứu thủy lợi ở Việt Nam chủ yếu nhìn từ giác độ kỹ thuật công trình, chưa đặt trong khung phân tích toàn diện kết hợp giữa thể chế, bối cảnh văn hóa – xã hội và các xung đột tương tác thực tế giữa các bên.
  3. Nhân học phát triển tại Việt Nam còn sơ khai (Pannier, 2020; Olivier de Sardan Jean-Pierre, 2009), chưa đi sâu phân tích quá trình thực thi các dự án can thiệp phát triển quy mô lớn. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng một nghiên cứu trường hợp cụ thể tại khu tưới Đức Hòa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm công cụ

  • Quản trị (Governance): Luận án tiếp cận theo định nghĩa của C. O’Donnell và Koontz (1972), coi quản trị là việc thiết lập và duy trì môi trường làm việc phối hợp để đạt kết quả với chi phí tối ưu, bao gồm chủ thể quản trị, nhân tố tác động và đối tượng tiếp nhận. Khác với "quản lý" (management) điều hành công việc mang tính kỹ thuật, quản trị chú trọng vào chính sách, quy tắc và con người.
  • Quản trị nước (Water governance): Theo định nghĩa của UNDP (1997), quản trị nước phản ánh vai trò của hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế và hành chính trong việc xác định ai được cấp nước, khi nào, bằng cách nào, và ai có quyền tiếp cận các dịch vụ cùng lợi ích liên quan.
  • Thể chế (Institutions): Dựa trên Pahl-Wostl (2009), luận án phân chia thành thể chế chính thức (khuôn khổ pháp lý, quy định của nhà nước) và thể chế phi chính thức (chuẩn mực văn hóa, luật tục, tri thức bản địa, tập quán ứng xử tại địa phương).
  • Nhóm tác nhân và sự tương tác: Bao gồm các tác nhân nhà nước (cơ quan quản lý các cấp, đơn vị tư vấn kỹ thuật) và phi nhà nước (nhà tài trợ quốc tế ADB, AFD; các hộ dùng nước), vận hành qua các tương tác đa cấp theo chiều dọc và chiều ngang.
  • Thủy lợi: Được hiểu theo Luật Thủy lợi năm 2017, nhưng trong giới hạn nghiên cứu của khu tưới Đức Hòa, khái niệm tập trung vào các giải pháp công trình (kênh chính, kênh cấp 1, 2, 3 và kênh nội đồng) dẫn nước từ hồ Dầu Tiếng phục vụ tưới nông nghiệp.
  • Quản lý tưới có sự tham gia (PIM): Theo Groenfeldt và cộng sự (1997), là cơ chế người dùng nước tham gia vào mọi khía cạnh và mọi cấp độ quản lý thủy nông.
  • Diễn ngôn (Discourse): Tiếp cận theo Michel Foucault (1969), diễn ngôn là phương thức biểu đạt của tư tưởng và lịch sử, được tác giả sử dụng để phân tích các cuộc thương thảo chính sách giữa nhà tài trợ quốc tế và chính quyền Việt Nam.

Khung lý thuyết phân tích

Luận án kết hợp 4 cơ sở lý thuyết:

  1. Lý thuyết hệ thống (System theory): Khởi xướng bởi Ludwig von Bertalanffy (1968) và được Dobner & Frede (2016) vận dụng vào ngành nước. Lý thuyết này xem một dự án thủy lợi lớn là một hệ sinh thái kỹ thuật – xã hội – sinh thái phức tạp; không thể giải quyết đơn lẻ từng bộ phận kỹ thuật mà phải đặt công trình trong mối tương tác chỉnh thể với môi trường chính trị, kinh tế và văn hóa.
  2. Lý thuyết quản trị khoa học (Scientific management theory): Xuất phát từ Frederick Taylor (1911) về quy trình hóa công việc, kết hợp với các lý thuyết quản trị hiện đại về phân cấp, hợp tác, quản trị đa cấp (Daniell & Andrian, 2017) và sự tham gia của công chúng (Quick & Bryson, 2016).
  3. Quản trị nước thích ứng (Adaptive water governance): Vận dụng khung phân tích 4 khía cạnh của Claudia Pahl-Wostl (2009):
    • Thể chế (mối quan hệ giữa thể chế chính thức và phi chính thức);
    • Mạng lưới tác nhân (tương tác giữa tác nhân nhà nước và phi nhà nước);
    • Tương tác đa cấp (qua địa giới hành chính và tích hợp dọc);
    • Chế độ quản trị (quan liêu, thị trường, hay mạng lưới), xem sự chuyển đổi là một tiến trình học tập xã hội (social learning).
  4. Chính trị hằng ngày (Everyday politics): Phân tích phản ứng, cách thích ứng ngầm và các hành vi không chính thức của nông dân khi tiếp nhận chính sách thủy lợi tại cơ sở.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án hoàn toàn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính của Nhân học:

  • Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu: Khảo sát các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tiền khả thi (Bộ NN&PTNT, 2002), báo cáo hoàn thành dự án của ADB (Completion Report, 2020), hồ sơ thiết kế kênh của đơn vị tư vấn CPIM (2018), các tư liệu sử liệu thời Nguyễn và số liệu thống kê kinh tế – xã hội của huyện Đức Hòa và tỉnh Long An.
  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Tác giả tham gia nhóm nghiên cứu liên ngành của Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) và AFD, tiến hành các đợt điền dã liên tục từ tháng 9/2016 đến tháng 11/2019:
    • Quan sát tham dự: Tham gia các cuộc họp dân tại các ấp, quan sát thực địa việc đào đắp kênh, hành vi lấy nước của nông dân, các buổi tiếp xúc giữa ban quản lý dự án và người dân.
    • Phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn với các nhóm chủ thể: đại diện nhà tài trợ, cán bộ ban quản lý dự án (PPMB), cán bộ Trung tâm Quản lý Khai thác Công trình Thủy lợi Đức Hòa (CMEI), chính quyền địa phương xã Tân Mỹ, trưởng ấp, đại diện tổ hợp tác dùng nước và các hộ nông dân trực tiếp canh tác.
    • Phân tích tư liệu hình ảnh và nghe nhìn: Phân tích bản đồ quy hoạch qua các thời kỳ (2003, 2012, 2016, 2017), bản vẽ kỹ thuật kênh nội đồng CH01, và các tư liệu phim tài liệu do EFEO thực hiện vào tháng 4/2018.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày chi tiết lịch sử nghiên cứu vấn đề quản trị nước trong và ngoài nước qua 3 hướng tiếp cận (tri thức dân gian, lịch sử, chính trị – xã hội); xác lập các khoảng trống học thuật cần bổ khuyết; định nghĩa hệ thống 7 khái niệm công cụ; xây dựng khung phân tích kết hợp giữa lý thuyết hệ thống của Bertalanffy, lý thuyết quản trị và khung quản trị thích ứng 4 chiều kích của Pahl-Wostl; đồng thời mô tả chi tiết phương pháp điền dã dân tộc học, cách thức thu thập và xử lý dữ liệu định tính trong thời gian 2016–2019.

Chương 2: Khu tưới Đức Hòa trong bối cảnh thủy lợi của Long An

Nội dung chương 2 phác họa bức tranh địa – lịch sử và bối cảnh sinh thái nhân văn của tỉnh Long An nói chung và địa bàn huyện Đức Hòa nói riêng:

  • Phân tích vị thế sinh thái của Long An – một "miền đất khát giữa đầm lầy", nằm ở vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ, thường xuyên chịu tác động của phèn và xâm nhập mặn trong mùa khô.
  • Lược khảo tiến trình phát triển thủy lợi của địa phương qua ba mốc lịch sử: thời nhà Nguyễn (đào kênh Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế và các kênh liên vùng); thời kỳ thực dân Pháp (mở mang các tuyến kênh xáng phục vụ bóc lột tài nguyên và lúa gạo); giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay (chương trình ngọt hóa Đồng Tháp Mười, đào kênh Hồng Ngự, kênh Tân Hưng).
  • Bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay với các hiện tượng thời tiết cực đoan, hạn hán và xâm nhập mặn gia tăng tại đồng bằng sông Cửu Long.
  • Quá trình hình thành Dự án Thủy lợi Phước Hòa và quy hoạch khu tưới Đức Hòa: Luận án phân tích sự thay đổi giữa thiết kế ban đầu năm 2003 và thực tế triển khai năm 2017. Ban đầu dự án kỳ vọng cấp nước cho diện tích lớn đất nông nghiệp, nhưng thực tế quy hoạch phải thu hẹp và điều chỉnh do quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng của huyện Đức Hòa.
  • Xác định hệ thống các tác nhân quản lý: Cơ quan cấp vốn (ADB, AFD), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 9, Ban Quản lý dự án tỉnh Long An (PPMB), Trung tâm CMEI, chính quyền huyện Đức Hòa, UBND xã Tân Mỹ, đơn vị tư vấn CPIM, và các hộ nông dân tại các ấp.

Chương 3: Quản trị tưới có sự tham gia và quá trình thực hiện ở khu tưới Đức Hòa

Chương 3 tập trung mổ xẻ sự tương tác và xung đột diễn ngôn xung quanh mô hình Quản lý tưới có sự tham gia (PIM):

  • Xung đột diễn ngôn: Các nhà tài trợ quốc tế (ADB, AFD) đặt điều kiện áp dụng mô hình PIM nhằm chuyển giao quyền lực và trách nhiệm quản lý cho nông dân (thông qua Chương trình Phát triển Xã hội và Nội đồng - OSDP). Phía các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam chấp nhận mô hình trên văn bản nhưng trong thực tế vận hành vẫn duy trì tư duy quản lý chỉ huy, tập trung kỹ thuật từ trên xuống.
  • Tiến trình triển khai thực tế: Dự án thành lập Trung tâm Quản lý Khai thác Công trình Thủy lợi Đức Hòa (CMEI) để quản lý các tuyến kênh cấp 1, cấp 2 và cấp 3 (PST). Công tác triển khai PIM được giao cho đơn vị tư vấn kỹ thuật (CPIM) thực hiện theo hợp đồng ngắn hạn mang tính hành chính hóa.
  • Các thách thức nảy sinh: Bối cảnh kinh tế – xã hội của Đức Hòa biến động sâu sắc do tiếp giáp Thành phố Hồ Chí Minh. Các khu công nghiệp mọc lên nhanh chóng, đất nông nghiệp bị thu hồi hoặc nông dân giữ đất chờ chuyển đổi mục đích sang đất công nghiệp, dịch vụ. Nông dân địa phương quen với tập quán sử dụng nước ngầm (khoan giếng) hoặc dựa vào nước mưa, chưa từng có kinh nghiệm tổ chức cộng đồng quản lý mạng lưới kênh thủy lợi mặt, dẫn đến việc tiếp nhận mô hình PIM diễn ra thụ động, hình thức.

Chương 4: Tổ hợp tác dùng nước và kênh nội đồng

Chương 4 đi sâu vào hai thiết chế mấu chốt ở cấp cơ sở thông qua dữ liệu điền dã thực tế:

  • Tổ hợp tác dùng nước (WUG): Việc thành lập các tổ WUG gặp nhiều trở ngại do cơ chế áp đặt từ trên xuống. Nông dân thiếu động lực tham gia vì diện tích đất canh tác manh mún, nhiều người có tâm lý bỏ ruộng làm công nhân hoặc buôn bán. Sơ đồ phân bố các tổ hợp tác do đơn vị tư vấn CPIM lập năm 2018 mang tính cơ học, không phản ánh các mối quan hệ xã hội gắn kết làng xóm thực tế. Các cuộc họp tổ hợp tác thường vắng mặt hoặc chỉ có người già, phụ nữ đi thay.
  • Vấn đề xây dựng kênh nội đồng: Theo thiết kế dự án, Nhà nước chỉ đầu tư đến kênh cấp 3; hệ thống kênh nội đồng đưa nước trực tiếp vào ruộng (như tuyến mẫu CH01) buộc nông dân phải tự bỏ kinh phí và tự hiến đất để xây dựng.
    • Tác giả ghi nhận thái độ bất hợp tác của nông dân: người có đất gần kênh cấp 3 không muốn hiến đất làm kênh nội đồng cho người ở xa hưởng lợi; người ở cuối kênh lo ngại không có nước tới nơi.
    • Tác giả dẫn chứng số liệu thực địa qua Bảng thống kê các cuộc họp dân tại xã Tân Mỹ (tháng 10–11/2018): tỷ lệ nông dân tham dự rất thấp, đa số không đồng ý đóng góp tiền xây kênh kiên cố theo thiết kế của tư vấn CPIM mà lựa chọn kênh đất hoặc không làm.
    • Hiện tượng "chính trị hằng ngày": Người dân không phản kháng công khai mà ngấm ngầm tự giải quyết nhu cầu nước bằng cách dùng ống nhựa xiphông (xi-phông) tự chế đặt qua bờ kênh chính/kênh cấp 1 để hút trộm nước vào ruộng, hoặc tự ý đào các rãnh mương đất tự phát gây sạt lở bờ kênh bê tông.
  • Ngụ ý chính sách: Luận án đề xuất cơ quan quản lý cần nhận diện các giới hạn của mô hình PIM khi áp dụng vào vùng ven đô; cần có cơ chế hỗ trợ tài chính cho hệ thống kênh nội đồng thay vì khoán trắng cho nông dân; và phải kết hợp các quy ước cộng đồng phi chính thức vào quy trình vận hành kênh thủy lợi.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận

  • Luận án là một trong những công trình nhân học thực nghiệm nghiên cứu về một đại công trình thủy lợi hiện đại ở Việt Nam dưới góc độ Nhân học phát triển.
  • Công trình chứng minh tính hữu dụng của việc kết hợp khung phân tích Quản trị nước thích ứng của Claudia Pahl-Wostl (2009) với Lý thuyết hệ thống (Dobner & Frede, 2016) và khái niệm "Chính trị hằng ngày", giúp giải mã các tương tác đa cấp phức tạp giữa nhà tài trợ quốc tế, cơ quan nhà nước các cấp và cư dân bản địa.
  • Làm rõ khoảng cách giữa "diễn ngôn chính sách" (PIM, trao quyền cho cộng đồng) và "thực hành thực tế" (vận hành áp đặt từ trên xuống, hành chính hóa hoạt động tư vấn).

Đóng góp mới về thực tiễn

  • Luận án phản ánh bức tranh thực trạng tại khu tưới Đức Hòa: một dự án thủy nông hàng trăm triệu USD gặp bế tắc ở chặng cuối (kênh nội đồng) do không tính toán đầy đủ yếu tố bối cảnh kinh tế – xã hội của một vùng đô thị hóa ven đô.
  • Cung cấp dữ liệu dân tộc học chi tiết về hành vi của người dùng nước: việc sử dụng ống xiphông lấy nước, sự phản kháng thầm lặng trước các yêu cầu đóng góp đất đai, và sự thiếu vắng động lực tham gia vào các tổ hợp tác dùng nước.
  • Đóng góp luận cứ cho thấy việc cơ học áp dụng mô hình PIM theo chuẩn quốc tế vào địa bàn không có truyền thống dùng nước kênh tập trung sẽ dẫn đến sự lãng phí hạ tầng kỹ thuật.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án

  • Nhà nước cần điều chỉnh chính sách đầu tư thủy lợi: không dừng ngân sách ở kênh cấp 3 mà cần hỗ trợ kinh phí kiên cố hóa hệ thống kênh nội đồng tại các vùng chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ.
  • Thay đổi quy trình thành lập tổ hợp tác dùng nước: tránh hành chính hóa và giao khoán cho các công ty tư vấn kỹ thuật; cần xây dựng mô hình dựa trên mạng lưới xã hội sẵn có tại các ấp, gắn quyền lợi khai thác với trách nhiệm cụ thể.
  • Nâng cao năng lực cho các trung tâm quản lý khai thác thủy nông địa phương (như CMEI Đức Hòa), chuyển từ tư duy "quản lý công trình kỹ thuật" sang "quản trị dịch vụ công có sự tương tác với người dân".

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Về phạm vi đối tượng: Luận án chỉ tập trung vào nguồn nước mặt dẫn qua hệ thống công trình thủy lợi phục vụ tưới tiêu nông nghiệp; chưa thể bao quát toàn bộ các nguồn tài nguyên nước khác trên địa bàn như nước ngầm (vốn đang bị khai thác mạnh bởi các giếng khoan của dân cư) và nguồn nước phục vụ công nghiệp, sinh hoạt.
  • Về phạm vi thời gian: Quá trình nghiên cứu thực địa kết thúc vào tháng 11/2019 – giai đoạn khu tưới mới bắt đầu đưa vào vận hành thử nghiệm toàn hệ thống; do đó, các tác động dài hạn của biến đổi khí hậu, hiện tượng sụt lún đất do khai thác nước ngầm và sự dịch chuyển sinh kế hoàn toàn của cư dân sang công nghiệp chưa được theo dõi trọn vẹn.
  • Về tính đại diện: Nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào xã Tân Mỹ (huyện Đức Hòa), dù có đối sánh với dự án chung và khu tưới Tân Biên, nhưng các đặc thù về đất đai và tiến độ công nghiệp hóa tại các xã khác trong khu tưới có thể có những sai biệt nhất định.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Nghiên cứu dài hạn về sự thay đổi sinh kế và việc tái cấu trúc không gian sản xuất của nông dân khi các khu công nghiệp tại Đức Hòa được lấp đầy hoàn toàn.
  • Đánh giá xung đột tài nguyên nước giữa khu vực công nghiệp và sản xuất nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu và hạn mặn cực đoan tại vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ.
  • Nghiên cứu tác động của việc bỏ hoang hạ tầng kênh mương thủy lợi nội đồng đối với môi trường sinh thái nông thôn vùng ven đô thị hóa.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Nhân học, Xã hội học: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp điền dã dân tộc học trong lĩnh vực Nhân học phát triển tại Việt Nam; minh họa cách ứng dụng lý thuyết thể chế và khung phân tích quản trị thích ứng vào một nghiên cứu tình huống cụ thể.
  • Các nhà hoạch định chính sách nông nghiệp và thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Thủy lợi): Cung cấp cơ sở thực tiễn để đánh giá lại các quy định về việc huy động nông dân đóng góp xây dựng kênh nội đồng theo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới và Luật Thủy lợi 2017.
  • Các ban quản lý dự án ODA và nhà tài trợ quốc tế (ADB, AFD, WB): Là tài liệu tham khảo về các rào cản văn hóa, kinh tế – xã hội khi áp dụng mô hình Quản lý tưới có sự tham gia (PIM/IMT) vào các vùng chuyển đổi kinh tế nhanh tại các nước đang phát triển.
  • Cơ quan quản lý khai thác thủy lợi cấp tỉnh và huyện (Sở NN&PTNT Long An, Trung tâm CMEI Đức Hòa): Cung cấp các thông tin phản hồi từ người dân địa phương giúp hoàn thiện quy trình điều tiết nước và phương thức tiếp cận cộng đồng tại xã Tân Mỹ và các xã phụ cận.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao khu tưới Đức Hòa lại được chọn làm địa bàn nghiên cứu trọng điểm của luận án?

Khu tưới Đức Hòa là một trong hai khu tưới mới (cùng với Tân Biên, Tây Ninh) thuộc Dự án Thủy lợi Phước Hòa – dự án ODA quy mô lớn với tổng đầu tư 337,62 triệu USD. Địa bàn này mang tính đặc thù cao vì nằm tiếp giáp Thành phố Hồ Chí Minh, đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng. Tại đây nảy sinh sự cạnh tranh gay gắt về đất đai và nguồn nước giữa công nghiệp và nông nghiệp; đồng thời, cư dân địa phương chưa từng có truyền thống dùng nước mặt thủy lợi, tạo nên một bối cảnh điển hình để kiểm chứng sự thích ứng của các mô hình quản trị nước hiện đại.

2. Mô hình PIM (Quản lý tưới có sự tham gia) đã gặp phải những trở ngại căn bản nào khi triển khai tại khu tưới Đức Hòa?

Mô hình PIM gặp 3 trở ngại chính:

  • Sự bất đồng về quan điểm: Nhà tài trợ muốn trao quyền thực chất cho người dùng nước, trong khi các cơ quan nhà nước vẫn duy trì phương thức quản lý tập trung từ trên xuống và hành chính hóa việc thành lập tổ chức nông dân thông qua đơn vị tư vấn kỹ thuật.
  • Bối cảnh kinh tế biến động: Tốc độ đô thị hóa khiến nông dân không còn tha thiết với sản xuất nông nghiệp, nhiều hộ giữ đất chờ đền bù hoặc chuyển đổi ngành nghề, làm triệt tiêu động lực tham gia tổ chức dùng nước.
  • Thiếu tập quán văn hóa: Cư dân Đức Hòa quen khoan giếng dùng nước ngầm hoặc đón nước mưa, không có sẵn tri thức truyền thống hay sự gắn kết cộng đồng trong việc điều tiết nước mương chung như cư dân các đồng bằng lúa nước lâu đời ở miền Bắc hay vùng lõi châu thổ.

3. Hiện tượng "chính trị hằng ngày" được thể hiện qua hành vi cụ thể nào của người nông dân tại xã Tân Mỹ?

Tại xã Tân Mỹ, nông dân không phản đối chính sách bằng các hành vi xung đột công khai mà lựa chọn hình thức phản kháng thầm lặng: họ vắng mặt trong các cuộc họp dân do tư vấn tổ chức; từ chối hiến đất và không đóng tiền xây dựng kênh nội đồng bằng bê tông. Thay vào đó, họ tự chế các ống nhựa xiphông để hút trộm nước trực tiếp từ các tuyến kênh chính qua đê vào ruộng của mình, hoặc tự đào các đường rãnh đất tạm bợ dẫn nước làm xói lở hạ tầng công trình chung.

4. Luận án ghi nhận số liệu cụ thể nào về việc đầu tư và hiệu quả khai thác thủy lợi ở Việt Nam?

Theo dữ liệu luận án công bố, trên phạm vi cả nước có khoảng 80% diện tích đất canh tác (chủ yếu là đất trồng lúa) đã được xây dựng hạ tầng thủy lợi, nhưng thực tế chỉ khoảng 50% diện tích nhận được nước tưới tương đối đầy đủ. Riêng Dự án Thủy lợi Phước Hòa có vốn dự toán ban đầu là 296,26 triệu USD (sau tăng lên 337,62 triệu USD do chi phí đền bù giải phóng mặt bằng), trong đó vốn vay từ ADB là 145 triệu USD và AFD là 46 triệu USD.

Kết luận

Luận án "Vấn đề quản trị nước ở khu tưới Đức Hòa, tỉnh Long An" của Nguyễn Minh Nguyệt là một công trình nghiên cứu định tính theo hướng Nhân học phát triển, làm rõ tiến trình tương tác và xung đột giữa các chủ thể trong quá trình chuyển giao mô hình Quản lý tưới có sự tham gia (PIM). Bằng phương pháp điền dã dân tộc học sâu rộng tại xã Tân Mỹ giai đoạn 2016–2019, tác giả đã chỉ ra khoảng cách lớn giữa diễn ngôn chính sách kỹ thuật và thực tiễn đời sống xã hội tại một vùng ven đô đang công nghiệp hóa mạnh mẽ. Công trình khẳng định rằng một dự án thủy nông hiện đại không thể vận hành thành công nếu chỉ dựa vào thiết kế công trình áp đặt từ trên xuống mà thiếu sự hòa nhập với bối cảnh thể chế phi chính thức và các động thái kinh tế – xã hội của cộng đồng hưởng lợi.