Chương 1 phân tích tình hình nghiên cứu, nguồn tài liệu và xác định hướng nghiên cứu chính của luận án, làm rõ cơ sở lý luận, khung phân tích và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 tập trung làm rõ những đặc điểm kinh tế xã hội và môi trường của địa bàn nghiên cứu, đặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu của đồng bằng sông Cửu Long nói chung và khu tưới Đức Hòa nói riêng. Chương này đặt cơ sở cho các phân tích về mô hình quản trị và tương tác giữa cơ quan có trách nhiệm và các hộ dùng nước trong bối cảnh môi trường nhân văn và tự nhiên ở các chương sau. Chương 3 tìm hiểu quá trình xây dựng hệ thống kênh tưới, các cuộc thương thảo và những khác biệt trong quan điểm và thực hành quản trị nước ở Khu tưới Đức Hòa với trọng tâm là vấn đề quản trị nước tưới có sự tham gia.
Chương 4 tìm hiểu việc hình thành tổ hợp tác dùng nước như một sự đổi mới trong quản trị nước cùng những phản hồi từ những người tham gia vào quá trình này và quá trình xây dựng hệ thống kênh nội đồng đưa nước tưới đến các hộ dùng nước. Các kết quả phân tích trong Chương này cũng gợi lên những kiến nghị, ngụ ý cho chính sách quản trị nước ở khu tưới Đức Hòa nói riêng và quản trị nước thủy lợi ở Việt Nam nói chung. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong Chương này, tôi sẽ giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị nguồn nước nói chung và quản trị nguồn nước thủy lợi nói riêng cũng như điểm mạnh, điểm hạn chế của các nghiên cứu đó. Khảo cứu các tài liệu là cơ sở nền tảng để giúp tôi lựa chọn lý thuyết và phương pháp nghiên cứu cho luận án của mình, góp phần lấp đầy những khoảng trống mà các nghiên cứu trên để lại.
Tình hình nghiên cứu Quản trị nước là một lĩnh vực nghiên cứu rộng và phức tạp. Các nguồn nước như nước ngầm, nước mặt ở sông suối, ao hồ và nước từ các công trình thủy lợi mà con người tích trữ và điều tiết để phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất và cải tạo môi trường đòi hỏi phải được xử lý bằng các mô hình quản trị phù hợp với điều kiện tự nhiên, chính trị và xã hội địa phương. Luận án này không có tham vọng nghiên cứu cách thức quản trị tất cả các nguồn nước nói trên. Thay vào đó, nghiên cứu của tôi tập trung vào vấn đề quản trị nguồn nước thủy lợi với trường hợp nghiên cứu sâu ở khu tưới Đức Hòa, tỉnh Long An.
Có thể nói sự phát triển của thủy lợi và quản trị nước là đề tài đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Nhìn lại lịch sử nghiên cứu của vấn đề, phần khảo cứu này thay vì liệt kê các tài liệu, sẽ phân tích các cách tiếp cận đã có để từ đó xác định hướng nghiên cứu chính của luận án. Có thể nhận thấy có ba hướng tiếp cận phổ biến là: (1) Tiếp cận quản trị nước từ tri thức dân gian, (2) Tiếp cận quản trị nước từ quan điểm lịch sử, (3) Tiếp cận quản trị nước từ quan điểm chính trị - xã hội. Để tập trung phân tích các nghiên cứu đã có về quản trị nước thủy lợi, trong phần tổng quan này tôi sẽ tập trung vào những hướng tiếp cận nổi bật về quản trị nước ở trong và ngoài nước, trên cơ sở đó xác định những vấn đề có thể học hỏi, phát triển và bổ khuyết trong nghiên cứu của mình.
Tiếp cận quản trị nước từ tri thức dân gian Tri thức dân gian là một khái niệm tương đối rộng, thường được gọi bằng những tên khác nhau như “tri thức bản địa” (indigenous knowledge), “tri thức địa phương” (local knowledge), “tri thức truyền thống” (traditional knowledge) hoặc 15 “tri thức kỹ thuật bản địa” (indigenous technical knowledge), v. Các thuật ngữ này dù ít nhiều có những hàm ý khác nhau nhưng nhìn chung được hiểu là loại hình tri thức được tích lũy và trao truyền giữa các thế hệ trong một cộng đồng hay vùng miền nhất định, trên cơ sở quan sát các điều kiện cụ thể của địa phương, và học hỏi từ quá trình tương tác giữa con người với hệ sinh thái tự nhiên để phục vụ cho cuộc mưu sinh trong không gian sinh tồn của mình. Dưới góc độ tiếp cận tri thức địa phương và tập tục dân gian gắn với quản trị nước, các nhà nghiên cứu có xu hướng tập trung vào ba khía cạnh: 1) kinh nghiệm trị thủy; 2) tri thức và quy định của luật tục địa phương về bảo vệ nguồn nước; và 3) các nghi lễ, huyền thoại dân gian để đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa nước và đời sống con người. Nghiên cứu của Flanagan & Laituri (2004) về quản trị nước trong cộng đồng thổ dân châu Mỹ góp phần chỉ ra rằng quan điểm văn hóa mở ra một hướng quan trọng để xem xét các vấn đề quản lý.
Hiểu và xác định các thực hành văn hóa có thể là bước đầu tiên và quan trọng trong việc hợp tác quản lý tài nguyên giữa các nhóm văn hóa khác nhau để ngăn ngừa xung đột và giải quyết khiếu nại kéo dài. Tại Việt Nam, một quốc gia nông nghiệp được tạo dựng trên cơ sở của nền văn minh lúa nước thì nước tưới và tri thức địa phương trong quản trị nước tưới là yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu. Hệ thống tri thức này có thể thay đổi để thích ứng vào thời gian và không gian nên “trong nhiều trường hợp lại tỏ ra phù hợp hơn so với các tri thức khoa học” (Sillitoe, 1998, dẫn theo Lâm Bá Nam, 2010:7). Khi tiếp cận tri thức địa phương trong quản trị nước, Cầm Trọng (1978) quan tâm đến tri thức kiến tạo các công trình thủy lợi và cách con người khai thác nó phục vụ sản xuất và cuộc sống.
Theo ông, địa bàn cư trú của người Thái ở Tây Bắc là nơi tập trung các con suối lớn, sông suối ở đây có độ cao từ 100 đến 600m nên vào mùa mưa, dòng chảy rất dữ dội. Để thích nghi với điều kiện tự nhiên này, người Thái tránh dựng nhà ở các miệng khe, miệng vực. Dựa trên kinh nghiệm đó, bản mường Thái vẫn bám rất chắc trên những dải đất kề sông, kề suối: "Có nước thì có cá. Vào ở đó mới sống được suốt đời".
Trong hoạt động trị thủy, người Thái vốn nổi tiếng với hệ thống thủy lợi mương, phai, lái, lín và cọn nước. Trong các khâu kỹ thuật liên hoàn, biện pháp thuỷ lợi luôn được người Thái đặt lên hàng đầu với ý 16 thức, vai trò và tầm quan trọng: “có nước mới nên ruộng, có ruộng mới nên lúa” (mi nặm chắng pên na, mi na chắng pên kháu). Đề cập đến kinh nghiệm dùng nước của người Hà Nhì ở Lai Châu và Lào Cai, tác giả Đặng Thị Oanh (2008) đã chỉ ra cách mà người Hà Nhì có thể trở thành những những người trồng lúa nước giàu kinh nghiệm dù sinh sống trên những vùng núi cao. Họ chọn những mảnh đồi có nguồn nước mạch hoặc gần nguồn nước mạch để có thể dẫn nước tới ruộng bằng cách đào rãnh từ trên cao xuống thấp, từ bên này sang bên kia, từ ruộng trên xuống ruộng dưới và hệ thống rãnh nước này cũng có thể là hệ thống rãnh thoát khi cần tiêu úng.
Phía trên những thửa ruộng bậc thang này còn có giao thông hào để phòng trừ hiện tượng mưa lớn tràn từ đỉnh đồi xuống làm gãy lúa, trôi màu trên ruộng. Cộng đồng người Mường, người Dao và người Hmông ở các tỉnh miền núi phía Bắc cũng thường xây dựng hệ thống cấp nước chung bằng các cọn nước (guồng nước) làm bằng tre nứa và hệ thống nước tự chảy. Người Dao ở xã Ngọc Hội, Tuyên Quang chủ yếu lấy nước từ hệ thống nước tự chảy từ cao xuống thấp. Vì thế, khi phát rừng để lấy đất làm rẫy, họ thường để lại các cây lớn ở trên đỉnh đồi hoặc đầu nguồn nước để giữ nước.
Các tộc người ở Tây Nguyên cũng có những luật tục phong phú liên quan đến việc bảo vệ, khai thác và sử dụng nguồn nước. Đối với họ, nước là yếu tố quan trọng, gắn bó mật thiết với đời sống. Điều đó được thể hiện qua hình tượng hai vị thủ lĩnh “Pơ tao ya” (Thủy Xá – Vua nước) và “Pơ tao pui” (Hỏa Xá – Vua lửa) trong văn hóa tộc người, và tiền tố “Ea” tức là nước xuất hiện phổ biến trong tên các địa danh như EaTam, EaSúp, EaH’leo… (Nguyễn Trường Giang, 2001). Khu vực đồng bằng sông Cửu Long cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả bởi đây là địa bàn sông nước và ngành nghề chủ yếu của người dân bản địa là nông – ngư nghiệp.
Theo tác giả Phạm Xuân Phú và cộng sự (2017), thông qua việc sống chung với lũ hằng năm, người dân địa phương đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm để dự báo và thích nghi với lũ nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản của mình trong cuộc sống và sản xuất nông nghiệp. Các kinh nghiệm đã được người dân sử dụng để dự đoán lũ gồm quan sát diễn biến lũ trong các năm trước; quan sát màu nước, hướng gió; quan sát biểu hiện của một số loài thực vật, động vật. Ví dụ như mực nước trong các tháng 5 và 6 âm lịch cao thì tháng 7 và 8 âm lịch sẽ có lũ, 17 cứ 3 năm lũ thấp thì có 1 năm lũ cao. Hoặc dựa vào quan sát màu của nước, nếu trong nước có nhiều tảo (trứng nước) hoặc trứng nước xuất hiện sớm (tháng 5, 6 âm lịch) thì sẽ có lũ.
Bằng những kinh nghiệm này, người dân sẽ chủ động phòng tránh và nhằm giảm thiệt hại do lũ gây ra. Họ dựng nhà theo kiểu nhà sàn có trụ nâng, khi có biểu hiện lũ dâng cao thì người dân chủ động nâng sàn nhà lên. Đối với sản xuất nông nghiệp, người dân sẽ thay đổi lịch thời vụ, giống canh tác, kỹ thuật bón phân, làm đất cho phù hợp. Và trong đánh bắt thủy sản, họ cũng dựa vào mực nước để dự đoán các loài cá sẽ xuất hiện trong các ngày tiếp theo.
Vì thế, mặc dù bị coi là hiện tượng thiên tai nhưng đối với người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, lũ được xem như là một tặng phẩm, một phương thức canh tác nông nghiệp khác. Thay vì trồng lúa, người dân, nhất là người không có đất có thể kiếm sống bằng việc khai thác lượng thủy sản dồi dào do lũ mang đến.