VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ NƯỚC Ở KHU TƯỚI ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Nghiên cứu quản trị nước tại khu tưới Đức Hòa, Long An. Phân tích các vấn đề, thách thức và giải pháp quản lý nguồn nước hiệu quả cho khu vực.

Chuyên ngành

Nhân học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2023

217
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Câu hỏi nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

0.6. Bố cục của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu

1.2. Tiếp cận quản trị nước từ tri thức dân gian

1.3. Tiếp cận quản trị nước từ quan điểm lịch sử

1.4. Tiếp cận quản trị nước từ quan điểm chính trị - xã hội

1.5. Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

1.6. Khái niệm công cụ sử dụng trong luận án

1.7. Lý thuyết hệ thống (system theory)

1.8. Lý thuyết quản trị khoa học (governance theory)

1.9. Quản trị nước thích ứng (adaptive water governance) và khung phân tích

1.10. Chính trị hằng ngày và quản trị nước

1.11. Phương pháp nghiên cứu

1.11.1. Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu

1.11.2. Phương pháp điền dã dân tộc học

1.12. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: KHU TƯỚI ĐỨC HÒA TRONG BỐI CẢNH THỦY LỢI CỦA LONG AN

2.1. Giới thiệu chung về Long An

2.2. Long An từ góc nhìn địa – lịch sử

2.3. Long An, miền đất khát giữa đầm lầy

2.4. Quá trình phát triển thủy lợi ở Long An

2.5. Hệ thống thủy lợi ở Long An dưới thời Nguyễn

2.6. Hệ thống thủy lợi ở Long An dưới thời thực dân

2.7. Hệ thống thủy lợi ở Long An từ sau năm 1975 đến nay. Những vấn đề đặt ra cho thủy lợi Long An trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay

2.8. Khu tưới Đức Hòa trong khuôn khổ Dự án thủy lợi Phước Hòa

2.9. Dự án Thủy lợi Phước Hòa

2.10. Khu tưới Đức Hòa. Những tác nhân chính liên quan đến quản trị tưới ở Đức Hòa

2.11. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: QUẢN TRỊ TƯỚI CÓ SỰ THAM GIA VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN Ở KHU TƯỚI ĐỨC HÒA

3.1. Mô hình quản trị tưới có sự tham gia

3.2. Đề xuất mô hình quản trị tưới từ các đối tác của dự án

3.3. Quan điểm của Việt Nam. Quá trình triển khai mô hình quản trị tưới có sự tham gia (PIM) ở khu tưới Đức Hòa

3.4. Triển khai PIM ở Dự án Phước Hòa

3.5. Triển khai PIM ở khu tưới Đức Hòa. Các thách thức đối với mô hình quản trị tưới có sự tham gia tại khu tưới Đức Hòa

3.6. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: TỔ HỢP TÁC DÙNG NƯỚC VÀ KÊNH NỘI ĐỒNG

4.1. Tổ hợp tác dùng nước

4.2. Cơ sở của việc thành lập các tổ hợp tác dùng nước. Quá trình triển khai tổ hợp tác dùng nước

4.3. Những vấn đề đặt ra đối với việc thành lập tổ hợp tác dùng nước

4.4. Kênh nội đồng

4.5. Cơ sở của việc nông dân tự xây kênh nội đồng

4.6. Quá trình triển khai việc xây kênh nội đồng. Những vấn đề đặt ra đối với việc huy động nông dân tự xây kênh nội đồng

4.7. Những ngụ ý thực tiễn cho chính sách quản trị nước hiệu quả

4.8. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quản Trị Nước Khu Tưới Đức Hòa Long An 55

Luận án tập trung vào quản trị nước tại khu tưới Đức Hòa, Long An, một khu vực hưởng lợi từ Dự án Thủy lợi Phước Hòa. Dự án này có tầm quan trọng đặc biệt đối với các tỉnh Đông Nam Bộ, với mục tiêu cấp nước cho sinh hoạt, kinh tế và cải thiện môi trường. Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) và Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO), tập trung vào mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến quản lý nguồn nước ở khu tưới Đức Hòa và Tân Biên. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của thủy lợi đối với an ninh lương thực và phát triển bền vững, đồng thời đề xuất các giải pháp quản trị nước hiệu quả.

1.1. Bối cảnh Dự án Thủy Lợi Phước Hòa tại Long An

Dự án Thủy lợi Phước Hòa được phê duyệt năm 2002, khởi công năm 2004 và hoàn thành năm 2016, với tổng mức đầu tư lớn. Mục tiêu là lấy nước từ Sông Bé cấp cho Bình Dương, Bình Phước và bổ sung cho hồ Dầu Tiếng để cấp cho Tây Ninh, Long An và TP.HCM. Dự án hình thành hai khu tưới mới ở Đức Hòa (Long An) và Tân Biên (Tây Ninh). AFD phối hợp EFEO nghiên cứu thực trạng quản lý nguồn nước tại các địa phương hưởng lợi, tập trung vào mối quan hệ giữa các chủ thể quản lý nguồn nước.

1.2. Ý nghĩa của Nghiên cứu Nhân học Thủy Lợi Đức Hòa

Nghiên cứu nhằm đổi mới mô hình quản trị nước, đặc biệt quan trọng trong bối cảnh tốc độ hiện đại hóa và đô thị hóa nhanh chóng ở Đức Hòa. Quỹ đất và nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp cạnh tranh gay gắt với công nghiệp và sinh hoạt. Người dân cũng chưa quen với việc sử dụng nguồn nước tưới từ hệ thống kênh mương. Nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu công tác quản trị hiệu quả, góp phần vào quá trình đổi mới quản trị nước nói chung và quản trị nước ở các khu tưới của các dự án thủy lợi nói riêng.

II. Thách Thức Quản Lý Nước Nông Nghiệp Đức Hòa 58

Mặc dù Việt Nam đã đầu tư đáng kể vào cơ sở hạ tầng thủy lợi, nhưng chỉ có khoảng 50% diện tích canh tác trong các hệ thống thủy lợi được cấp nước đầy đủ. Từ góc độ nhân học văn hóa – xã hội, quy trình vận hành và vấn đề quản trị nước của các công ty thủy nông và người dùng nước còn nhiều bất cập. Việc xã hội hóa công tác vận hành hệ thống tưới tiêu và sự tham gia của nông dân vào quá trình xây dựng, vận hành, bảo trì công trình thủy lợi chưa được nghiên cứu đầy đủ, dẫn đến hiệu suất đầu tư thực tế thấp. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về các nghiên cứu liên ngành và sự tham gia của các nhà xã hội học thủy lợi.

2.1. Bất Cập trong Quy Trình Quản Lý Thủy Lợi Hiện Tại

Thực tế cho thấy, chỉ khoảng 50% diện tích canh tác trong các hệ thống thủy lợi được cấp nước một cách tương đối đầy đủ. Từ góc độ nhân học văn hóa – xã hội, ngoài một số hạn chế do thiết kế hệ thống thì quy trình vận hành, vấn đề quản trị nước của các công ty thủy nông (Irrigation Management Company - IMC) và của người dùng nước còn nhiều bất cập cần được nghiên cứu. Việc xã hội hóa công tác vận hành hệ thống tưới tiêu và sự tham gia của người nông dân vào quá trình xây dựng, vận hành, bảo trì công trình thủy lợi và những xung đột nảy sinh trong quá trình này hầu như chưa được nghiên cứu để đổi mới mô hình quản trị nước.

2.2. Cạnh Tranh Nguồn Nước và Áp Lực Đô Thị Hóa

Đức Hòa, với vị trí tiếp giáp TP.HCM, đối mặt với tốc độ hiện đại hóa và đô thị hóa mạnh mẽ. Quỹ đất và nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp bị cạnh tranh gay gắt với nhu cầu cho sản xuất công nghiệp và sinh hoạt. Người dân cũng chưa quen với việc sử dụng nguồn nước tưới từ hệ thống kênh mương thủy lợi. Điều này càng đặt ra tính cấp thiết phải nghiên cứu công tác quản trị hiệu quả nguồn nước ở khu tưới này.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Nhân Học Quản Trị Thủy Lợi 52

Luận án tiếp cận vấn đề quản trị nước từ góc độ nhân học phát triển, một lĩnh vực còn mới mẻ ở Việt Nam. Nghiên cứu tập trung vào thực trạng quản trị nước tại một dự án thủy lợi cụ thể, hành vi dùng nước của các bên tham gia và phản hồi của họ về chính sách quản trị nước. Mục tiêu là đề xuất hướng cải thiện và đổi mới quản trị nước ở địa phương. Luận án sử dụng các khái niệm và lý thuyết cốt lõi của nhân học để tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của quá trình phát triển.

3.1. Nhân Học Phát Triển và Quản Trị Nước Bền Vững

Nhân học phát triển quan tâm nghiên cứu quá trình phát triển nói chung, những dự án phát triển cụ thể nói riêng, tác động đến văn hóa và xã hội ở những địa bàn và trên những quy mô khác nhau. Do đó, có thể coi Nhân học phát triển là một lĩnh vực nghiên cứu sử dụng các khái niệm và lý thuyết cốt lõi của Nhân học để tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của quá trình phát triển. Luận án này tập trung nghiên cứu thực trạng quản trị nước ở một dự án thủy lợi cụ thể, hành vi dùng nước của các bên tham gia trong dự án và phản hồi của họ về chính sách quản trị nước để từ đó đề xuất hướng cải thiện và đổi mới quản trị nước ở địa phương.

3.2. Phạm Vi Nghiên Cứu Từ Xây Dựng Đến Vận Hành

Phạm vi nghiên cứu bao quát cả một quá trình từ khi bắt đầu khởi công xây dựng khu tưới cho đến khi đi vào vận hành (2010-2019), trong đó giai đoạn dự án đi vào vận hành từ 2016 trở đi được nghiên cứu sâu hơn với các cuộc khảo sát thực địa và sự quan sát tác động của dự án từ khi đi vào vận hành. Nghiên cứu tập trung vào các tác nhân liên quan đến quản trị nước trong khu tưới, bao gồm đội triển khai mô hình quản lý tưới của dự án; cơ quan nhà nước các cấp; cơ quan quản lý tưới tại địa phương; và đặc biệt là các hộ sử dụng nước.

IV. Mô Hình Quản Trị Tưới Tham Gia và Thực Hiện 57

Luận án đi sâu vào mô hình quản trị tưới có sự tham gia (PIM) được triển khai tại khu tưới Đức Hòa. Nghiên cứu phân tích đề xuất mô hình từ các đối tác của dự án và quan điểm của Việt Nam về PIM. Quá trình triển khai PIM được xem xét từ cấp dự án Phước Hòa đến khu tưới Đức Hòa, làm rõ các thách thức đối với mô hình này. Phân tích này giúp đánh giá tính hiệu quả và khả năng áp dụng của PIM trong bối cảnh thực tế tại địa phương, hướng đến các giải pháp quản lý nước bền vững.

4.1. Đề Xuất Mô Hình Quản Trị Tưới Có Sự Tham Gia

Luận án đi sâu vào mô hình quản trị tưới có sự tham gia (PIM). Nghiên cứu phân tích đề xuất mô hình quản trị tưới từ các đối tác của dự án. Cùng với đó, nghiên cứu cũng xem xét quan điểm của Việt Nam. Mục đích là để làm rõ các quan điểm khác nhau và những điểm tương đồng. Để từ đó, đánh giá tính hiệu quả của mô hình và khả năng áp dụng của PIM trong bối cảnh thực tế tại địa phương.

4.2. Thách Thức trong Triển Khai Mô Hình PIM tại Đức Hòa

Quá trình triển khai PIM được xem xét từ cấp dự án Phước Hòa đến khu tưới Đức Hòa, làm rõ các thách thức đối với mô hình này. Nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc mô tả quá trình triển khai mà còn đi sâu vào phân tích các yếu tố cản trở và thuận lợi. Mục đích là để hướng đến các giải pháp quản lý nước bền vững.

V. Tổ Hợp Tác Dùng Nước Kênh Nội Đồng Hiệu Quả 59

Nghiên cứu phân tích vai trò của tổ hợp tác dùng nước và kênh nội đồng trong hệ thống thủy lợi Đức Hòa. Luận án xem xét cơ sở thành lập và quá trình triển khai các tổ hợp tác, đồng thời đánh giá những vấn đề đặt ra đối với hoạt động của chúng. Vấn đề xây dựng kênh nội đồng được phân tích từ góc độ nông dân tự nguyện tham gia. Nghiên cứu giúp làm rõ vai trò của cộng đồng trong việc quản lý nguồn nước và khai thác hiệu quả hệ thống thủy lợi.

5.1. Vai Trò của Tổ Hợp Tác Dùng Nước

Nghiên cứu phân tích vai trò của tổ hợp tác dùng nước. Luận án xem xét cơ sở thành lập và quá trình triển khai các tổ hợp tác, đồng thời đánh giá những vấn đề đặt ra đối với hoạt động của chúng. Cần đánh giá vai trò và hiệu quả của tổ chức này trong việc tham gia vào quản lý nguồn nước và đảm bảo phân phối nước công bằng, hiệu quả.

5.2. Kênh Nội Đồng Nỗ Lực Từ Cộng Đồng Nông Dân

Vấn đề xây dựng kênh nội đồng được phân tích từ góc độ nông dân tự nguyện tham gia. Luận án xem xét cơ sở của việc nông dân tự xây kênh nội đồng và quá trình triển khai việc này. Qua đó, làm rõ những vấn đề đặt ra đối với việc huy động nông dân tự xây kênh nội đồng. Nghiên cứu giúp làm rõ vai trò của cộng đồng trong việc khai thác hiệu quả hệ thống thủy lợi.

VI. Giải Pháp Quản Trị Nước Bền Vững Ở Đức Hòa 55

Nghiên cứu đề xuất các ngụ ý thực tiễn cho chính sách quản trị nước hiệu quả tại khu tưới Đức Hòa và rộng hơn là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Các giải pháp tập trung vào việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng, áp dụng các mô hình quản lý linh hoạt và thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp tri thức bản địa với khoa học kỹ thuật để đảm bảo tính bền vững của hệ thống quản lý nước.

6.1. Đề Xuất Giải Pháp Quản Trị Nước Hiệu Quả

Nghiên cứu đề xuất các ngụ ý thực tiễn cho chính sách quản trị nước hiệu quả. Các giải pháp tập trung vào việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Cần có những chính sách cụ thể để khuyến khích và hỗ trợ cộng đồng tham gia vào quá trình xây dựng, vận hành và bảo trì hệ thống thủy lợi.

6.2. Quản Trị Nước Thích Ứng và Bền Vững

Cần áp dụng các mô hình quản lý linh hoạt và thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp tri thức bản địa với khoa học kỹ thuật để đảm bảo tính bền vững của hệ thống quản lý nước. Các giải pháp cần có tính toàn diện, bao gồm cả các biện pháp kỹ thuật và phi kỹ thuật.

14/05/2025
Vấn đề quản trị nước ở khu tưới đức hòa tỉnh long an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 phân tích tình hình nghiên cứu, nguồn tài liệu và xác định hướng nghiên cứu chính của luận án, làm rõ cơ sở lý luận, khung phân tích và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 tập trung làm rõ những đặc điểm kinh tế xã hội và môi trường của địa bàn nghiên cứu, đặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu của đồng bằng sông Cửu Long nói chung và khu tưới Đức Hòa nói riêng. Chương này đặt cơ sở cho các phân tích về mô hình quản trị và tương tác giữa cơ quan có trách nhiệm và các hộ dùng nước trong bối cảnh môi trường nhân văn và tự nhiên ở các chương sau. Chương 3 tìm hiểu quá trình xây dựng hệ thống kênh tưới, các cuộc thương thảo và những khác biệt trong quan điểm và thực hành quản trị nước ở Khu tưới Đức Hòa với trọng tâm là vấn đề quản trị nước tưới có sự tham gia.

Chương 4 tìm hiểu việc hình thành tổ hợp tác dùng nước như một sự đổi mới trong quản trị nước cùng những phản hồi từ những người tham gia vào quá trình này và quá trình xây dựng hệ thống kênh nội đồng đưa nước tưới đến các hộ dùng nước. Các kết quả phân tích trong Chương này cũng gợi lên những kiến nghị, ngụ ý cho chính sách quản trị nước ở khu tưới Đức Hòa nói riêng và quản trị nước thủy lợi ở Việt Nam nói chung. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trong Chương này, tôi sẽ giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu về quản trị nguồn nước nói chung và quản trị nguồn nước thủy lợi nói riêng cũng như điểm mạnh, điểm hạn chế của các nghiên cứu đó. Khảo cứu các tài liệu là cơ sở nền tảng để giúp tôi lựa chọn lý thuyết và phương pháp nghiên cứu cho luận án của mình, góp phần lấp đầy những khoảng trống mà các nghiên cứu trên để lại.

Tình hình nghiên cứu Quản trị nước là một lĩnh vực nghiên cứu rộng và phức tạp. Các nguồn nước như nước ngầm, nước mặt ở sông suối, ao hồ và nước từ các công trình thủy lợi mà con người tích trữ và điều tiết để phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất và cải tạo môi trường đòi hỏi phải được xử lý bằng các mô hình quản trị phù hợp với điều kiện tự nhiên, chính trị và xã hội địa phương. Luận án này không có tham vọng nghiên cứu cách thức quản trị tất cả các nguồn nước nói trên. Thay vào đó, nghiên cứu của tôi tập trung vào vấn đề quản trị nguồn nước thủy lợi với trường hợp nghiên cứu sâu ở khu tưới Đức Hòa, tỉnh Long An.

Có thể nói sự phát triển của thủy lợi và quản trị nước là đề tài đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Nhìn lại lịch sử nghiên cứu của vấn đề, phần khảo cứu này thay vì liệt kê các tài liệu, sẽ phân tích các cách tiếp cận đã có để từ đó xác định hướng nghiên cứu chính của luận án. Có thể nhận thấy có ba hướng tiếp cận phổ biến là: (1) Tiếp cận quản trị nước từ tri thức dân gian, (2) Tiếp cận quản trị nước từ quan điểm lịch sử, (3) Tiếp cận quản trị nước từ quan điểm chính trị - xã hội. Để tập trung phân tích các nghiên cứu đã có về quản trị nước thủy lợi, trong phần tổng quan này tôi sẽ tập trung vào những hướng tiếp cận nổi bật về quản trị nước ở trong và ngoài nước, trên cơ sở đó xác định những vấn đề có thể học hỏi, phát triển và bổ khuyết trong nghiên cứu của mình.

Tiếp cận quản trị nước từ tri thức dân gian Tri thức dân gian là một khái niệm tương đối rộng, thường được gọi bằng những tên khác nhau như “tri thức bản địa” (indigenous knowledge), “tri thức địa phương” (local knowledge), “tri thức truyền thống” (traditional knowledge) hoặc 15 “tri thức kỹ thuật bản địa” (indigenous technical knowledge), v. Các thuật ngữ này dù ít nhiều có những hàm ý khác nhau nhưng nhìn chung được hiểu là loại hình tri thức được tích lũy và trao truyền giữa các thế hệ trong một cộng đồng hay vùng miền nhất định, trên cơ sở quan sát các điều kiện cụ thể của địa phương, và học hỏi từ quá trình tương tác giữa con người với hệ sinh thái tự nhiên để phục vụ cho cuộc mưu sinh trong không gian sinh tồn của mình. Dưới góc độ tiếp cận tri thức địa phương và tập tục dân gian gắn với quản trị nước, các nhà nghiên cứu có xu hướng tập trung vào ba khía cạnh: 1) kinh nghiệm trị thủy; 2) tri thức và quy định của luật tục địa phương về bảo vệ nguồn nước; và 3) các nghi lễ, huyền thoại dân gian để đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa nước và đời sống con người. Nghiên cứu của Flanagan & Laituri (2004) về quản trị nước trong cộng đồng thổ dân châu Mỹ góp phần chỉ ra rằng quan điểm văn hóa mở ra một hướng quan trọng để xem xét các vấn đề quản lý.

Hiểu và xác định các thực hành văn hóa có thể là bước đầu tiên và quan trọng trong việc hợp tác quản lý tài nguyên giữa các nhóm văn hóa khác nhau để ngăn ngừa xung đột và giải quyết khiếu nại kéo dài. Tại Việt Nam, một quốc gia nông nghiệp được tạo dựng trên cơ sở của nền văn minh lúa nước thì nước tưới và tri thức địa phương trong quản trị nước tưới là yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu. Hệ thống tri thức này có thể thay đổi để thích ứng vào thời gian và không gian nên “trong nhiều trường hợp lại tỏ ra phù hợp hơn so với các tri thức khoa học” (Sillitoe, 1998, dẫn theo Lâm Bá Nam, 2010:7). Khi tiếp cận tri thức địa phương trong quản trị nước, Cầm Trọng (1978) quan tâm đến tri thức kiến tạo các công trình thủy lợi và cách con người khai thác nó phục vụ sản xuất và cuộc sống.

Theo ông, địa bàn cư trú của người Thái ở Tây Bắc là nơi tập trung các con suối lớn, sông suối ở đây có độ cao từ 100 đến 600m nên vào mùa mưa, dòng chảy rất dữ dội. Để thích nghi với điều kiện tự nhiên này, người Thái tránh dựng nhà ở các miệng khe, miệng vực. Dựa trên kinh nghiệm đó, bản mường Thái vẫn bám rất chắc trên những dải đất kề sông, kề suối: "Có nước thì có cá. Vào ở đó mới sống được suốt đời".

Trong hoạt động trị thủy, người Thái vốn nổi tiếng với hệ thống thủy lợi mương, phai, lái, lín và cọn nước. Trong các khâu kỹ thuật liên hoàn, biện pháp thuỷ lợi luôn được người Thái đặt lên hàng đầu với ý 16 thức, vai trò và tầm quan trọng: “có nước mới nên ruộng, có ruộng mới nên lúa” (mi nặm chắng pên na, mi na chắng pên kháu). Đề cập đến kinh nghiệm dùng nước của người Hà Nhì ở Lai Châu và Lào Cai, tác giả Đặng Thị Oanh (2008) đã chỉ ra cách mà người Hà Nhì có thể trở thành những những người trồng lúa nước giàu kinh nghiệm dù sinh sống trên những vùng núi cao. Họ chọn những mảnh đồi có nguồn nước mạch hoặc gần nguồn nước mạch để có thể dẫn nước tới ruộng bằng cách đào rãnh từ trên cao xuống thấp, từ bên này sang bên kia, từ ruộng trên xuống ruộng dưới và hệ thống rãnh nước này cũng có thể là hệ thống rãnh thoát khi cần tiêu úng.

Phía trên những thửa ruộng bậc thang này còn có giao thông hào để phòng trừ hiện tượng mưa lớn tràn từ đỉnh đồi xuống làm gãy lúa, trôi màu trên ruộng. Cộng đồng người Mường, người Dao và người Hmông ở các tỉnh miền núi phía Bắc cũng thường xây dựng hệ thống cấp nước chung bằng các cọn nước (guồng nước) làm bằng tre nứa và hệ thống nước tự chảy. Người Dao ở xã Ngọc Hội, Tuyên Quang chủ yếu lấy nước từ hệ thống nước tự chảy từ cao xuống thấp. Vì thế, khi phát rừng để lấy đất làm rẫy, họ thường để lại các cây lớn ở trên đỉnh đồi hoặc đầu nguồn nước để giữ nước.

Các tộc người ở Tây Nguyên cũng có những luật tục phong phú liên quan đến việc bảo vệ, khai thác và sử dụng nguồn nước. Đối với họ, nước là yếu tố quan trọng, gắn bó mật thiết với đời sống. Điều đó được thể hiện qua hình tượng hai vị thủ lĩnh “Pơ tao ya” (Thủy Xá – Vua nước) và “Pơ tao pui” (Hỏa Xá – Vua lửa) trong văn hóa tộc người, và tiền tố “Ea” tức là nước xuất hiện phổ biến trong tên các địa danh như EaTam, EaSúp, EaH’leo… (Nguyễn Trường Giang, 2001). Khu vực đồng bằng sông Cửu Long cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả bởi đây là địa bàn sông nước và ngành nghề chủ yếu của người dân bản địa là nông – ngư nghiệp.

Theo tác giả Phạm Xuân Phú và cộng sự (2017), thông qua việc sống chung với lũ hằng năm, người dân địa phương đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm để dự báo và thích nghi với lũ nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản của mình trong cuộc sống và sản xuất nông nghiệp. Các kinh nghiệm đã được người dân sử dụng để dự đoán lũ gồm quan sát diễn biến lũ trong các năm trước; quan sát màu nước, hướng gió; quan sát biểu hiện của một số loài thực vật, động vật. Ví dụ như mực nước trong các tháng 5 và 6 âm lịch cao thì tháng 7 và 8 âm lịch sẽ có lũ, 17 cứ 3 năm lũ thấp thì có 1 năm lũ cao. Hoặc dựa vào quan sát màu của nước, nếu trong nước có nhiều tảo (trứng nước) hoặc trứng nước xuất hiện sớm (tháng 5, 6 âm lịch) thì sẽ có lũ.

Bằng những kinh nghiệm này, người dân sẽ chủ động phòng tránh và nhằm giảm thiệt hại do lũ gây ra. Họ dựng nhà theo kiểu nhà sàn có trụ nâng, khi có biểu hiện lũ dâng cao thì người dân chủ động nâng sàn nhà lên. Đối với sản xuất nông nghiệp, người dân sẽ thay đổi lịch thời vụ, giống canh tác, kỹ thuật bón phân, làm đất cho phù hợp. Và trong đánh bắt thủy sản, họ cũng dựa vào mực nước để dự đoán các loài cá sẽ xuất hiện trong các ngày tiếp theo.

Vì thế, mặc dù bị coi là hiện tượng thiên tai nhưng đối với người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, lũ được xem như là một tặng phẩm, một phương thức canh tác nông nghiệp khác. Thay vì trồng lúa, người dân, nhất là người không có đất có thể kiếm sống bằng việc khai thác lượng thủy sản dồi dào do lũ mang đến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài nghiên cứu "Quản Trị Nước ở Khu Tưới Đức Hòa, Long An: Nghiên cứu Nhân học" đi sâu vào phân tích cách thức quản lý và sử dụng nguồn nước trong khu tưới tiêu Đức Hòa, tỉnh Long An, dưới góc độ nhân học. Bài viết khám phá các yếu tố văn hóa, xã hội, và kinh tế ảnh hưởng đến việc phân phối và sử dụng nước, cũng như những thách thức và cơ hội trong việc cải thiện hiệu quả quản lý. Nghiên cứu này mang lại cái nhìn sâu sắc về sự tương tác giữa con người và tài nguyên nước, góp phần vào việc xây dựng các chính sách và giải pháp quản lý nước bền vững, phù hợp với bối cảnh địa phương.

Để hiểu rõ hơn về bức tranh quản lý tài nguyên tại Long An, bạn có thể tham khảo thêm luận văn thạc sĩ " Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp tại huyện vĩnh hưng tỉnh long an". Tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn một góc nhìn khác về quản lý tài nguyên, cụ thể là đất nông nghiệp, tại một huyện khác của tỉnh Long An, giúp bạn so sánh và đối chiếu các phương pháp và thách thức quản lý tài nguyên khác nhau.