Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tống quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu trên thế giới Ustaoglu và Lavalle (2016), Đánh giá về kinh tế của ĐNN đổi với tiến trình thay đổi sử dung dat, chính phủ có một số vai trò nhất định trong quản lý đất đai như: (i) Bao đảm các quyền về đất đai hợp pháp của người sở hữu, SDD và cung cấp cơ sở pháp lý cho các khoản vay thé chap bằng dat; (ii) Hỗ trợ việc định giá đất dé đánh thuế đất và thuế BĐS; (iii) Cung cấp thông tin thị trường đất và BĐS; (iv) Cung cấp đữ liệu điều tra đất đai và những điều kiện hạn chế đối với người SDĐ; (v) Giám sát tác động môi trường của những dự án phát triển SDD; (vi) Tạo thuận lợi cho cải tạo đất; (vii) Hỗ trợ kinh phí sáng tạo ban dau cho hệ thống quản lý dat. Home, Robert (2018), thông qua phân tích ba hình thức sở hữu đất ở Anh gồm: đất tư nhân, đất của nhà nước, dat do tập thé (cộng đồng) sở hữu, đã kết luận: có những thay đổi lớn trong QLNN đối với sở hữu dat đai trong thé ky XX ở Anh.
Tác giả cũng phát hiện một số lĩnh vực mới cần có sự can thiệp của Nhà nước Anh như: bảo vệ môi trường, đánh giá rủi ro, cung cấp đất ở và giải quyết xung đột về phân bổ sử dụng dat. Ahmet Yucer, Mustafa Kan, Muhammet Demirtas, Sevket Kalanlar (2016), đã nhan mạnh vai trò của nhà nước trong việc đưa ra và bô sung các chính sách pháp lý về thừa kế dé tránh tinh trạng phân mảnh DNN do luật thừa kế đất đai ở Thổ Nhĩ Kỳ. Cai Yumei (2010) đã chỉ rõ: hệ thống quy hoạch SDĐ ở Trung Quốc có nhiều phân hệ với các cấp khác nhau từ Chính phủ đến địa phương bao gồm: quy hoạch SDĐ cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp cơ sở. Tuy nhiên, các quy hoạch đó đều phải thực hiện theo định hướng của Chính phủ.
Riêng quy hoạch SDD cấp quốc gia và cấp tỉnh phải do Chính phủ phê duyệt. Hàng năm, căn cứ quy QHSDĐ được phê duyệt, Chính phủ giao chỉ tiêu chuyển mục dich sử dụng DNN sang mục đích khác cho từng tỉnh rồi các tỉnh mới giao chỉ tiêu cho từng huyện, xã thực hiện. Thaveeporn Vasavakul (2007), Phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam, Dự án nghiên cứu của Ngân hàng phát triển cho rằng, khi nhà nước can thiệp vào quá trình quy hoạch đất đai thì phải có trách nhiệm đền bù khi quy hoạch của nhà nước đưa ra không đem lại kết quả tốt. Công trình nghiên cứu Land Policies for Growth and poverty còn nhân mạnh: “Các chương trình đăng ký cần đi kèm với các chiến dịch công khai, đảm bảo phổ biến rộng rãi kiến thức về các quy tắc và quy trình đăng ký”.
Các tác giả cũng cho rằng: “Chính phủ có thé sử dụng các quy định về quy hoạch SDD dé xác định rõ những cách thức sử dung cụ thé, hoặc nghiêm cam những cách sử dụng khác ở một đơn vị nào d6”’ như tránh các khu công nghiệp bồ tri gần khu dân cư gây ồn ào và 6 nhiễm, hay việc chặt cây, chuyên mục đích SDD nông nghiệp. Hagman đề cập đến vai trò quản lý của nhà nước trong VIỆC cung cấp các thông tin về quy hoạch SDD nhằm nâng cao hiệu qua SDD đối với các nước đang phát triển. Kipka, Hol và cộng sự (2016) đã nhấn mạnh vai trò cung cấp thông tin về ĐNN của nhà nước khi phân tích việc phát triển dịch vụ thông tin điện tử nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dung DNN. Các tác giả cũng dé cập đến việc hạn chế thông tin thị trường đất đai sẽ đây giá thành chi phí giao dich DNN lên cao, thiếu sự cạnh tranh nên không có động lực SDĐ hiệu quả.
Nghiên cứu trong nước Nguyễn Mạnh Tuân (2011), “Chính sách về đất dai trong nông nghiệp cua Việt Nam: Thực trạng và những kiến nghị”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (396), tr.59- 67, cho rằng: Công tác đo đạc, lập ban đồ địa chính, đăng ký QSDD, cấp giấy chứng nhận QSDĐ ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có những chuyền biến, tạo cơ sở ban đầu cho việc quản lý và SDĐ hiệu quả hơn. Nhiều địa phương đã quan tâm tới việc triển khai thực hiện công tác đánh giá, phân hạng đất đai nông nghiệp, cơ bản hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho nông dân. Tuy nhiên, quy hoạch, kế hoạch SDD được lập và xét duyệt chủ yếu van mang tính hành chính, nhiều vùng, nhiều nơi còn chung chung, chưa thực sự gắn với quy hoạch phát triển KT-XH của từng cấp, từng ngành. Nguyễn Đình Bồng (2014), M6 hình Quản lý đất đai hiện đại ở một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia — Sự thật, Hà Nội.
đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quy hoạch SDĐ. Nghiên cứu đã phân tích vai trò của quy hoạch SDD và tác động của nó đến việc ban hành các chính sách đất đai. Tác giả cho rằng: quy hoạch, kế hoạch SDD phải được xây dựng có cơ sở khoa học và phù hợp với thực tiễn, không chỉ hướng người SDĐ sử dụng đúng mục đích, mà còn phải sử dụng có hiệu quả nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho xã hội và người sử dụng. Nguyễn Cúc (2015), Quản lý và sử dung DNN theo Luật dat đai 2013, nhấn mạnh: Việc định gia đất có thé được tiễn hành riêng cho diện tích đất và cũng có thể cho cả BĐS gắn liền trên đất.
Nhà nước có thé định ra và áp dụng các mức thu khác nhau tương ứng với giá trị sinh lợi của từng diện tích đất nhất định. Đồng quan điểm này, Nguyễn Thị Thu Hà cũng khẳng định: Cần hoàn thiện các quy định về khung giá đất, nhất là khung giá bồi thường DNN. Tác gia đề xuất cần thành lập một cơ quan thấm định giá ở mỗi tỉnh, thành phố, có vị trí pháp lý riêng biệt, tách khỏi các cơ quan nhà nước. Nguyễn Mạnh Tuân (2019) đưa ra một số giải pháp tài chính về đất đai cụ thể như sau: (i) Giá đất phải do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định, tiễn tới áp dụng cơ chế một giá đất dựa trên cơ sở thị trường có sự quản lý của nhà nước; (ii) Thu tiền SDD trên cơ sở đất đai phải được tính đủ giá trị nhằm SDD tiết kiệm, có hiệu quả; (iii) Ap dụng thuế suất lũy tiến từng phan dé điều tiết sao cho phù hợp với thu nhập của mỗi cá nhân.
Bùi Chí Trung (2022) đã nghiên cứu hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn phường tân bình huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Nghiên cứu này đã sử dụng các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp gồm: Việc thực hiện phương án sử dụng đất nông nghiệp; Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; công tác thu hồi đất; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo quyền sử dụng đất nông nghiệp. Khoảng trong nghiên cứu Mặc dù các công trình công bó đã phân tích được rất nhiều vấn đề liên quan đến QLNN đối với ĐNN nhưng vẫn còn nhiều nội dung chưa được làm rõ hay chưa được đề cập đến, đó chính là “khoảng trống” trong nghiên cứu mà tác giả có thể khai thác nghiên cứu: - Chưa có công trình nào làm rõ và phân tích sâu về vai trò, chức năng của nhà nước trong quản lý DNN, nhất là nội dung QLNN đối với DNN của chính quyền địa phương (bao gồm ba cấp). Các nghiên cứu chưa thể hiện rõ vai trò chức năng quản lý này của chính quyền địa phương ở một số khía cạnh như: bảo đảm quyền sở hữu đất, QSDĐ, bảo đảm điều kiện thế chấp đất đề vay ngân hàng, quản lý biến động đất, quản lý thị trường DNN, bảo tồn và phát triển quỹ DNN.
- Chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể những nội dung QLNN đối với ĐNN theo Luật đất đai 2013 ở huyện Vĩnh Hưng. Các tác giả trong và ngoài nước chưa đề cập trực tiếp đến những yêu cau, nhân tố ảnh hưởng đến QLNN đối với DNN của chính quyền địa phương ở huyện Vĩnh Hưng. Mặt khác, đề tài kế thừa nghiên cứu của Bùi Chí Trung (2022) để xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp tại huyện Vĩnh Hưng. Tong quan huyện Vĩnh Hung 1.
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Vi trí địa lý Vĩnh Hưng là huyện nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Long An, tổng diện tích tự nhiên 37.816,46ha, có toa độ địa lý từ 106° 3' 54” đến 106° 9' 15” kinh độ Đông; từ 09° 24" 10” đến 09° 48' 28” vĩ độ Bắc. Vị trí tiếp giáp như sau: Phía Bắc và Đông Bắc giáp Vương quốc Campuchia. Phía Đông Nam giáp thị xã Kiến Tường. Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Tân Hưng.
Tram Chim: : thiá 0| tụ M ch Tĩnh Đông Trip MA Thop Mỹ Luông Cad Lãnh Tinh iene Ey Hinh 1. Vi tri huyén Vinh Hung (Nguồn: UBND huyện Vĩnh Hưng, 2023) Huyện Vĩnh Hưng nằm trong vùng Đồng Tháp Mười nên có địa hình bằng phẳng trũng so với các huyện khác trong tỉnh, hệ thống kênh rach chang chit tạo thành nhiều mảng riêng biệt. Toàn huyện có 1 thị tran Vĩnh Hung và 09 xã gồm có: Vĩnh Bình, Tuyên Bình Tây, Khánh Hưng, Thái Trị, Vĩnh Trị, Vĩnh Thuận, Tuyên Bình, Hưng Điền A và Thái Bình Trung. Khu vực đô thị của huyện có thị tran Vinh Hưng là đô thị loại 5, diện tích 534,57ha (chiếm 1,41% diện tích tự nhiên), dân số 9.767 người (chiếm 19,43% dân số toàn huyện); mật độ dân số bình quân 1.827 người/km”.
Đây là nơi tập trung tất cả các cơ quan chủ chốt của huyện, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật của huyện. được đầu tư xây dựng hệ thống đê bao chống lũ triệt dé, là nhân tố của sự tăng trưởng. Điều kiện tự nhiên Khí hậu huyện Vĩnh Hưng mang tính chất đặc trưng nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt cao đều quanh năm, ánh sáng dồi dào, lượng mưa khá lớn và phân bố theo mùa. Địa hình bằng, thấp dần từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam, thoải theo hướng từ biên giới Campuchia về sông Vàm Cỏ Tây, vùng chuyền tiếp giữa bậc thềm phù sa cô (Pleitocene) với vùng thượng châu thé ĐBSCL, với hai kiểu cảnh quan chính là bồn trũng phèn giàu nước mưa (trầm tích giàu Sulphur) và lòng các con sông cô.