Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam 1. Trên Thế giới Bước vào thế kỷ XXI mặc dù khoa học kỹ thuật công nghệ phát triển như vũ bão song với những thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi trường sinh thái thì nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cơ bản đối với loài người. Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp.
Trên thế giới tuy nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận. Hầu hết các nước đều coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nền tảng của sự phát triển. Khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu con người ngày càng lớn nên nhu cầu lương thực thực phẩm là một sức ép nặng nề lên đất, đặc biệt là đất nông nghiệp. Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai.
Do đó đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để, các biện pháp gìn giữ độ phì nhiêu cho đất không được coi trọng. Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn cầu qua các hình thức bị mất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn và bị phá hoại cấu trúc của tầng đất… Đất nông nghiệp bị suy thoái, biến chất và ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản. Tổng diện tích đất trên thế giới 14.700 triệu ha, trừ diện tích đóng băng vĩnh cửu là 1.360 triệu ha thì diện tích đất còn lại chỉ có 13. Trong đó phần lớn có nhiều hạn chế cho sản xuất đó là khô, quá lạnh, dốc, nghèo dinh dưỡng, quá mặn, quá phèn, hay bị ô nhiễm, bị phá hoại do các hoạt động sử dụng đất không hợp lý của con người… Diện tích đất có khả năng canh tác còn 3.030 triệu ha, hiện con người mới khai thác hơn 1.500 n 5 triệu ha đất canh tác, trên thế giới hiện có 2000 triệu ha đất đã và đang bị thoái hoá, trong đó có 1260 triệu ha tập chung ở châu Á, Thái Bình Dương, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới hiện nay chỉ còn 0,23 ha, ở nhiều quốc gia châu Á Thái Bình Dương là dưới 0,15 ha.
Theo tính toán của tổ chức lương thực thế giới (FAO) với trình độ sản xuất trung bình như hiện nay trên thế giới để có đủ lương thực, thực phẩm thì mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác [2]. Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70%; ở các nước đang phát triển là 36% trong đó những loại đất tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, đất rừng nâu chỉ chiếm khoảng 12,6%; những loại đất quá xấu như vùng băng tuyết, hoang mạc, đất núi chiếm 40,5%; còn lại là các loại đất không phù hợp với việc trồng trọt như đất dốc, tầng đất mỏng…Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên. Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người toàn thế giới là 0,12 ha. Ở các nước khác nhau thì bình quân diện tích đất nông nghiệp cũng khác nhau như ở Mỹ là 0,25ha/ người; Bungari 0,7 ha/người; ở Pháp 0,64ha/người; ở Nhật 0,065ha/ người [6].
Ngày nay, thoái hoá đất và hoang mạc hoá là một trong những vấn đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt và giải quyết nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực, đất bị thoái hoá có ở khắp nơi trên thế giới; châu Á chiếm 38%; châu Phi 25,2%; châu Mỹ 20,5% ; châu Âu 11,1%; châu Đại Dương 5,2%. Thoái hoá đất có nhiều dạng và do nhiều nguyên nhân gây ra. Các dạng thoái hoá: xói mòn nước chiếm 55%; xói mòn gió 28%; …Tác động của con người đối với sự thoái hoá đất; chặt phá rừng 29,5%; chăn thả quá mức 34,5%; quản lý kém 28%; hoạt động công nghiệp 1,2% [6]. Điều này đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp trên đất.
Theo tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc ( FAO) cho biết, tình trạng thoái hoá đất gia tăng đã khiến năng suất cây trồng giảm và có thể đe doạ tới n 6 tình hình an ninh lương thực đối với khoảng ¼ dân số thế giới sống phụ thuộc trực tiếp vào đất. Thoái hoá đất ngoài vấn đề đe doạ tới an ninh lương thực còn là mối nguy cơ phá hoại các nguồn tài nguyên và sinh thái làm mất đa dạng sinh học và các nguy cơ khác. Việc con người khai thác và sử dụng bừa bãi không có khoa học làm cho đất nông nghiệp giảm cả về số lượng và chất lượng. Nhiều vùng đất trên thế giới đã trở thành sa mạc không thể canh tác được, các hệ sinh thái đất khô cằn rất nhạy cảm với việc khai thác quá mức và sử dụng đất không hợp lý.
Nghèo đói, mất ổn định chính trị, phá rừng, chăn thả quá mức và các hoạt động tưới tiêu nghèo nàn đều đóng góp vào sa mạc hoá. Sa mạc Sahara mỗi năm mở rộng lấn mất 100.000 ha đất nông nghiệp và đồng cỏ. Thoái hoá môi trường đất có nguy cơ làm giảm 10-20% sản lượng lương thực thế giới trong 20 năm tới. Khoảng 1,2 tỷ người của hơn 110 nước đang bị đe doạ bởi vấn đề này.
Tại Việt Nam Việt Nam là một trong những nước có diện tích tự nhiên nhỏ. Bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người là 0,38 ha/người, đứng thứ 203 trong số hơn 218 nước trên thế giới. Bình quân đất nông nghiệp 0,11 ha/ người, đứng thứ 205 trong số 218 nước [30]. Đặc biệt là trong số đất đó có tới 2/3 diện tích là đất đồi núi dốc, còn lại 1/3 là đồng bằng.
Theo Luật đất đai năm 2003, đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ và phát triển rừng. Tổng diện tích tự nhiên nước ta là 331.051,4 Km2 (theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2009), dân số là 86.024 nghìn người mật độ dân số là 260 người/km2. Bình quân diện tích đất tự nhiên 3.848m2/người đứng thứ 9 trong khu vực. Trong đó đất nông nghiệp 25.
Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên người là 2. Đất sản xuất nông nghiệp là 9. n 7 Trong đó đất sản xuất nông nghiệp được sử dụng chủ yếu vào các mục đích như trồng cây hàng năm và cây lâu năm. Sơ bộ năm 2009, đất trồng cây hàng năm có diện tích là 11188,6 ha, trong đó: đất trồng cây lương thực có hạt là 8528,4 nghìn ha, cây công nghiệp hàng năm là 758,6 nghìn ha.
Diện tích đất trồng cây lâu năm là 2760,6 nghìn ha, trong đó diện tích cây ăn quả là 774,0 nghìn ha, cây công nghiệp lâu năm 1936,2 nghìn ha [31]. Thực tế mấy năm trở lại đây, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại đặc biệt là diện tích đất trồng lúa ngày càng giảm do chuyển sang xây dựng đô thị và các khu công nghiệp. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong 10 năm (2000-2010), bình quân diện tích đất nông nghiệp giảm 50m2/người, đây là con số còn rất khiêm tốn. Đáng báo động hơn là tình trạng suy giảm chất lượng đất nông nghiệp do rửa trôi, xói mòn, khô hạn, sa mạc, mặn hoá, phèn hoá, chua hoá, thoái hoá lý hoá học đất, ô nhiễm … suy thoái chất lượng đất dẫn đến giảm khả năng sản xuất, giảm đa dạng sinh học và nhiều hậu quả khác.
Những tác động tiêu cực trên đây ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 50% diện tích đã và đang sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là thách thức to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta [2]. Thoái hoá đất đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn ở nước ta, đặc biệt là vùng rừng núi, nơi tập trung ¾ quỹ đất. Trên 50% diện tích đất (3,2 triệu ha) ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích đất (13 triệu ha) ở vùng miền núi có những vấn đề liên quan tới công trình suy thoái hoá đất, nguyên nhân suy thoái có nhiều, song chủ yếu do phương thức canh tác nương rẫy còn thô sơ, lạc hậu của các dân tộc thiểu số, tình trạng chặt phá đốt rừng bừa bãi, khai thác tài nguyên khoáng sản không hợp lý, lạm dụng các chất hữu cơ trong sản xuất, việc triển khai các công trình giao thông, nhà ở khu đô thị mới… Sự suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy giảm các quần thể động, thực vật và chiều hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đã tới mức báo động [10]. n 8 Ở Việt Nam hiện có 15,7 triệu ha đất bi xói mòn, rửa trôi mạnh, chua, 9 triệu ha đất có tầng mỏng và độ phì thấp, 3 triệu ha đất thường bị khô hạn và sa mạc hoá, 1,9 triệu ha đất bị phèn hoá, mặn hoá.
Ngoài ra còn các tình trạng ô nhiễm do phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật, chất thải, nước thải đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, sản xuất dịch vụ, chất độc hoá học để lại sau chiến tranh [2]… Đây thực sự là những vấn đề đáng lo ngại và thách thức lớn với một nước nông nghiệp như nước ta hiện nay. Vì vậy đối với đất nông nghiệp nước ta hiện nay khi sử dụng cần đảm bảo các nguyên tắc đã được nêu tại Điều 11 Luật đất đai năm 2003 có 3 nguyên tắc phải đảm bảo khi sử dụng đất: (1) Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất; (2) Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh; (3) Người sử dụng đất phải thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan. Ngoài 3 nguyên tắc trên cần thêm các nguyên tắc “Đầy đủ, hợp lý, hiệu quả và bền vững” và phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương để làm cơ sở cho việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả về cả mặt kinh tế, xã hội, môi trường.