LỜI MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Tầm quan trọng của việc liên kết chuỗi cung ứng được chú trọng hơn khi mà các tổ chức nhận thức được lợi ích của việc tham gia liên kết, hợp tác với nhau. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì tính chuyên môn hóa ngày càng tăng (Lummus và Vokurka, 1999), các tổ chức sẽ có xu hướng tăng cường hợp tác với các thành viên khác trong chuỗi cung ứng để sử dụng các nguồn lực có chất lượng của đối tác với chi phí thấp hơn là tự sản xuất nhưng không hiệu quả. Do đó, các tổ chức ngày càng muốn xích lại gần nhau nhằm quản lý hiệu quả các nguồn cung cũng như các kênh phân phối để vừa tối ưu hóa chi phí, đồng thời tăng sự thỏa mãn của khách hàng, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh và cải thiện lợi nhuận của các tổ chức tham gia (Lee, 2000; Anderson và Narus, 1990). Vì vậy, rất nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng: sự cạnh tranh đang diễn ra giữa chuỗi cung ứng với chuỗi cung ứng, không phải diễn ra giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (Christopher, 1998).
Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm kiếm và xác định các điều kiện tiền đề đối với các tổ chức tham gia liên kết chuỗi cung ứng. Nhiều học giả cho rằng liên kết chuỗi cung ứng là do áp lực cạnh tranh toàn cầu (Handfield và Nichols, 1999), hoặc rủi ro do sự biến động của môi trường bao gồm thay đổi về cung, cầu và công nghệ (Chen và Paulraj, 2004; Mentzer và cộng sự, 2000), các cơ hội từ thị trường mới (Frohlich và Westbrook, 2002). Tuy nhiên, theo các chuyên gia trong ngành thủy sản thì ngoài áp lực cạnh tranh toàn cầu, rủi ro liên quan đến chuỗi cung ứng (nguồn cung, thị trường, nguồn thông tin và môi trường) và chiến lược kinh doanh 9 của doanh nghiệp là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến liên kết giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng. Sự tác động của rủi ro lên mức độ liên kết phù hợp với lý thuyết mối quan hệ giữa môi trường và tổ chức (Aldrich và Pleffer, 1976).
Khi môi trường thay đổi thì tổ chức cũng nên thay đổi theo để tồn tại và phát triển. Các tổ chức có xu hướng tăng cường các mối quan hệ để hạn chế sự tác động từ sự không ổn định của cung, cầu, công nghệ và môi trường nói chung (David, 1993; Mentzer, 2000; Chen và Paulraj, 2004). Tuy nhiên, quan điểm về mối quan hệ này cũng đang còn trái chiều. Một số tác giả cho rằng đây là mối quan hệ thuận chiều, nghĩa là môi trường càng bất ổn, rủi ro cao thì các tổ chức có xu hướng tăng cường liên kết (Afuah, 2001; Lui và cộng sự, 2010; Germain và cộng sự, 2008).
Trong khi đó, một số nghiên cứu khác thì xác định quan hệ này là ngược chiều, rủi ro càng cao, các tổ chức càng không có xu hướng liên kết với nhau, thay vào đó họ chỉ phát triển quan hệ bình thường với các đối tác để dễ dàng thay đổi khi môi trường biến động (Zhao và cộng sự, 2013). Do đó, tiếp tục kiểm định và lý giải về mối quan hệ này là cần thiết. Sự tác động của chiến lược kinh doanh lên liên kết chuỗi cung ứng cũng phù hợp với lý thuyết về mối quan hệ giữa chiến lược, cấu trúc và kết quả kinh doanh (SSP) (Chandler, 1962; William, 1975). Lý thuyết này cho rằng chiến lược là yếu tố thúc đẩy sự thay đổi của cấu trúc và quá trình kinh doanh (Miles và Snow, 1978) và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh (Habib và Victor, 1991).
Tuy nhiên, chiến lược nào sẽ thúc đẩy tổ chức thay đổi theo hướng tăng cường liên kết chuỗi cung ứng và mối quan hệ giữa chúng ảnh hưởng như thế nào đến kết quả kinh doanh vẫn là một câu hỏi cần phải được giải đáp thêm. Khá nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (Droge và các cộng sự, 2004; Flynn và các cộng sự, 2010). Tuy nhiên, các nghiên cứu không cho kết quả thống nhất với nhau. Do đó, 10 cần phải định nghĩa rõ ràng, chuẩn lại thang đo và tìm kiếm các biến hoàn cảnh có thể ảnh hưởng điều tiết đến mối quan hệ trên (Fabbe-Costé và Jahre, 2008).
Kết luận này cũng đồng nhất với lý thuyết hoàn cảnh hay ngẫu nhiên (Contigency theory) của Woodward (1965). Vì vậy, nghiên cứu này sẽ mở rộng sự hiểu biết của chúng ta về liên kết trong chuỗi cung ứng thông qua việc nghiên cứu và xác định rõ ràng hơn các yếu tố ảnh hưởng cả bên trong và bên ngoài đến sự liên kết này cũng như sự ảnh hưởng của liên kết đến kết quả kinh doanh. Nghiên cứu này cũng sẽ kiểm định sự tác động điều tiết của yếu tố văn hóa tổ chức đến các mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết chuỗi cung ứng. Cuối cùng, một số biến kiểm soát cũng sẽ được xem xét như các công đoạn trong chuỗi, loại hình tổ chức tham gia và qui mô các tổ chức này.
Theo tổng cục thống kê năm 2018 GDP ngành nông nghiệp tăng 3,76%, đạt mức cao nhất trong bảy năm gần đây, giá trị sản xuất tăng 3,86%. Việt Nam tiếp tục duy trì 10 nhóm mặt hàng có kim ngạch XK hơn một tỷ USD. Trong đó, có năm mặt hàng có kim ngạch hơn ba tỷ USD gồm: gỗ và sản phẩm gỗ 8,86 tỷ USD; tôm 3,59 tỷ USD; cà phê quả 3,81 tỷ USD; cà-phê 3,46 tỷ USD; hạt điều 3,43 tỷ USD). Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản chủ yếu của nước ta, Để có những sản phẩm đạt chất lượng và đạt được hiệu quả kinh doanh thì ngoài thói quen canh tác, áp dụng khoa học công nghệ… thì phải cần có nguồn cung cấp những nguyên liệu ban đầu cho việc sản xuất đạt chất lượng cũng như có hệ thống kênh phân phối tốt để đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng một cách có hiệu quả nên việc có một chuỗi cung ứng tốt sẽ góp phần rất lớn đến hiệu quả kinh doanh.
Sự liên kết giữa các thành viên trong chuỗi góp phần thúc đẩy sự gắn kết trong chuỗi cung ứng, giúp chuỗi cung ứng hoạt động tối ưu. Ngược lại nếu các thành viên, các nhân tố trong chuỗi không có sự gắn kết thì chuỗi sẽ rời rạc, phát triển gián đoạn và không mang lại giá trị kinh tế hiệu quả 11 Từ đó tôi đã đi sâu và tìm hiểu đề tài “ Phân tích liên kết chuỗi cung ứng ngắn cà phê tại Đắk Lắk” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng liên kết chuỗi cung ứng cà phê tại Đăk lăk, từ đó đề tài đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện và thúc đẩy sự liên kết trong chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm cà phê phát triển hơn trong thời gian tới, khai thác tối đa lợi thế kinh tế vùng.2 Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết chuỗi cung ứng hàng nông sản - Đánh giá thực trạng, phân tích hoạt động và mối liên kết của các tác nhân liên kết trong chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm cà phê trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk - Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần cải thiện liên kết chuỗi cung ứng ngắn sản phẩm cà phê trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Các nhân tố trong chuỗi cung ứng cà phê tại Đăk Lăk bao gồm tập trung nghiên cứu thực trạng liên kết chuỗi cung ứng ngắn cà phê, giữa các tác nhân trong chuỗi: người cung ứng đầu vào, hộ trồng cây cà phê, người thu gom, người bán buôn, người bán lẻ, người vận chuyển và các bên liên quan đến chuỗi trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk Phạm vi thời gian từ tháng 12/2019 đến tháng 5/2020 Thời gian thu thập số liệu sơ cấp tháng 3 năm 2020 12 PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT CHUỖI CUNG ỨNG HÀNG NÔNG SẢN 2.1 Cở sở lý luận 2.1 Các khái niệm cơ bản 2.1 Chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng hay Supply chain là một hệ thống các tổ chức, con người, hoạt động, thông tin và các nguồn lực liên quan tới việc di chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp hay nhà sản xuất đến người tiêu dùng. Chuỗi cung ứng là một hình thức phát triển của lĩnh vực Logistics (hậu cần). Ban đầu, logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần.
Đến cuối thế kỷ 20, Logistics được ghi nhận như là một chức năng kinh doanh chủ yếu, mang lại thành công cho các công ty cả trong khu vực sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ. Ủy ban kinh tế và xã hội châu Á Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP) ghi nhận Logistics đã phát triển qua ba giai đoạn: - Giai đoạn 1: Phân phối (Distribution) Đó là quản lý một cách có hệ thống các hoạt động liên quan với nhau nhằm đảm bảo cung cấp sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng một cách hiệu quả nhất. Giai đoạn này bao gồm các hoạt động nghiệp vụ sau: Vận tải, phân phối, bảo quản hàng hóa, quản lý kho bãi, bao bì, nhãn mác, đóng gói. 13 - Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics Giai đoạn này có sự phối kết hợp công tác quản lý của hai mặt trên vào cùng một hệ thống có tên là Cung ứng vật tư và Phân phối sản phẩm.
- Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng Theo ESCAP thì đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi quan hệ: Nhà cung cấp nguyên liệu –> đơn vị sản xuất – đến người tiêu dùng. Khái niệm quản trị dây chuyền chú trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất với nhà cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan như các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty công nghệ thông tin. Theo Đặng Duy Anh (2012) thì khái niệm về chuỗi cung ứng hiện nay đối với các nhà quản trị Việt Nam vẫn còn khá mơ hồ và hầu như chưa được quan tâm đúng với tầm quan trọng của nó. Ngược lại, trên thế giới thì “chuỗi cung ứng là một tài sản chiến lược”.
Các công ty dẫn đầu như Wal-Mart và Dell hiểu rằng chuỗi cung ứng có thể là một sự khác biệt mang tính sống còn.