chương 1, tác giả trình bày sơ lược về lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cũng được chỉ rõ nhằm làm tiền đề cho các chương tiếp theo. Tiếp theo, chương 2 sẽ đi vào phần cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN cứu VÀ cơ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan nghiên cứu 2.1 Các nghiên cứu nước ngoài Trong một nghiên cứu, (Al-Homaidi etal., 2020) tác giả đã sử dụng mẫu là 2150 công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Boombay tại Ân Độ kết quả cho thấy các yếu tố bên trong quyết định KNTT là quy mô công ty mức độ an toàn vốn khả năng sinh lợi đòn bẩy và tuổi của công ty.
Yếu tố bên ngoài là hoạt động kinh tế (GDP), ty lệ lạm phát, ty giá hối đoái và lãi suất. Các kết quả liên quan đến các yếu tố quyết định bên trong cho thấy rằng quy mô công ty và ty lệ lợi nhuận trên tài sản có mối quan hệ tích cực với tính thanh toán; còn ty lệ an toàn vốn , ty lệ đòn bẩy, ty suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tuổi của công ty có tác động tiêu cực đến thanh toán. Nghiên cứu cung cấp những ý tưởng hữu ích và bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố quyết định bên ngoài và bên trong của công ty được đề cập ỏ Ân Độ. Rất hữu ích cho các chủ ngân hàng và phân tích cơ quan quản lý nhà đầu tư và các bên liên quan khác.
Giá trị của nghiên cứu hiện tại cung cấp một cái nhìn thú vị về biến số bên trong và bên ngoài về tính thanh khoản của các công ty niêm yết ở Ân Độ. Nghiên cứu của (Caporale et al., 2017) đã phân tích rủi ro mất khả năng thanh toán của các công ty bảo hiểm ở Anh. Tác giả sử dụng dữ liệu từ 515 công ty trong 30 năm, nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm lãi suất, ty giá hối đoái và đầu tư trực tiếp nước ngoài là cần thiết để đánh giá rủi ro tín dụng của các công ty bảo hiểm. Trong khi các yếu tố như bảo lãnh phát hành, đòn bẩy, thanh khoản, tái bảo hiểm và cơ cấu tổ chức đều có tác động tích cực đến khả năng thanh toán của công ty bảo hiểm.
Nhưng quy mô và tốc độ tăng trưởng của công ty về mức thống kê thì không có ý nghĩa. Các nghiên cứu của (Al-Homaidi et al., 2020) và (Caporale et ai., 2017) đều phân tích yếu tố kinh tế vĩ mô và yếu tố đặc biệt liên quan đến KNTT của công ty. Các nghiên cứu đều thống nhất rằng đòn bẩy tác động tiêu cực đến khả KNTT của công ty, trong 7 khi kết quả của hai nghiên cứu có sự khác biệt về tác động của quy mô công ty đến KNTT. Nghiên cứu (Al-Homaidi et al., 2020) cho thấy tác động tiêu cực, nhưng theo (Caporale et al., 2017) tác động này ý nghĩa thống kê không có.
Trong khi nghiên cứu (Al-Homaidi et al., 2019) các yếu tố quyết định tính thanh khoản của 37 ngân hàng thương niêm yết sở chứng khoán Boombay ở Ân Độ, xét về yếu tố kinh tế vĩ mô kết quả chỉ cho rằng trong số các nhân tố đặc thù của ngân hàng thì quy mô doanh nghiệp, tỷ suất sinh lợi trên tài sản có tác động tích cực, trong khi tỷ lệ chất lượng tài sản, tỷ lệ lợi nhuận trên VCSH và tỷ lệ lãi suất ròng được cho là tác động tiêu cực đáng kể đến KNTT. Nghiên cứu cho rằng các chủ ngân hàng nên xem xét chất lượng tài sản giúp nâng cao hoạt động công ty. Ở cấp độ Liên minh Châu Âu, nghiên cứu (Carson & Hoyt, 2000) đã xác định các biến số quan trọng trong việc phát hiện sớm tình trạng suy sút tài chính công ty và nghiên cứu tầm quan trọng của các biến số này trong việc đánh giá rủi ro mất khả năng thanh toán trong công ty. Nghiên cứu sử dụng mẫu bao gồm 1900 công ty, giai đoạn 1984-2000, dùng mô hình hồi quy logistic.
Ket quả cho thấy vốn và thặng dư có tác động tiêu cực đến KNTT của DN. Ngoài ra, mức độ tập trung công việc của công ty ở các vùng địa lý cụ thể. Các khu vực bị tác động tiêu cực đến mất KNTT; bởi vì mang lại lợi thế cạnh tranh so với các công ty cùng ngành khác và tác động tích cực đối với nợ phải trả, tài sản ngắn hạn, đòn bẩy và ty lệ bất động sản trên tổng tài sản đối với khả năng mất khả năng thanh toán của các công ty. Kết quả nghiên cứu (Carson & Hoyt, 2000); (Al-Homaidi et al., 2020) cho thấy vốn có tác động tích cực đến KNTT của các công ty.
(Caporale et al., 2017) cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực đến KNTT của các công ty niêm yết. Ngoài ra, nghiên cứu (Mackie-Mason, 1990) tranh luận rằng các công ty chuyên sâu về nghiên cứu và phát triển, chẳng hạn như công ty có tiềm năng tăng trưởng cao, nên tránh phát hành nợ công. Vì vậy, cần phải có quan hệ tiêu cực giữa tăng trưởng với tài trợ nợ. Điều này có nghĩa là các công ty tăng trưởng cao sẽ phải đối mặt với mức độ kiệt quệ tài chính thấp hơn khi họ sử dụng ít nợ vay hơn.
Giả sử rằng các 8 công ty đặc biệt quan tâm đến tương lai cũng như các vấn đề tài chính hiện tại, thì có khả năng cao là các công ty có cơ hội tăng trưởng kỳ vọng lớn sẽ duy trì khả năng nợ rủi ro thấp để tránh tài trợ cho đầu tư trong tương lai bằng chào bán cổ phần hoặc chuyển khoản đầu tư (Morri & Cristanziani, 2009). Nghiên cứu Alexander Bathory đề xuất mô hình đo lường rủi ro tài chính của DN vào năm 1984 sử dụng thang đo cho 5 nhóm chỉ tiêu tài chính là cơ cấu vốn, khả năng sinh lợi, tỷ trọng vốn đầu tư vào tài sản. Kết hợp 5 chỉ số tài chính để nhận diện rủi ro tài chính. Mô hình của Bathory gợi ý rằng giá trị của FRit tỷ lệ thuận tình hình tài chính của công ty và và rủi ro tài chính càng thấp khi giá trị FRit càng cao.
Nghiên cứu của (Gang & Liu, 2012); (Bhunia, 2012) cho thấy rủi ro tài chính có tương quan đáng kể với xỷ lệ KNTT hiện hành (CR), tỷ suất sinh lợi của doanh thu (ROS), vốn cố định (FAR), vốn tự có (NAR); tương quan giữa vòng quay tài sản cố định (FAT) với vòng quay tổng tài sản (TAT) thấp; và không có mối tương quan với cơ cấu nợ (CL/NCL), vòng quay hàng tồn kho (IT), vòng quay khoản phải thu (ART). (Kumar, 2015) sử dụng mô hình Alexander Bathory để đo lường rủi ro tài chính và thực hiện phân tích hồi quy để nghiên cứu quan hệ giữa rủi ro tài chính và các nhân tố tác động đến rủi ro tài chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy: (i) Vòng quay tài sản cố định (FATR) có mối tương quan thuận lớn nhất với rủi ro tài chính; (ii) tỷ lệ KNTT nhanh (QR) có mối tương quan nghịch lớn nhất với rủi ro tài chính; (iii) rủi ro tài chính tương quan thuận với thu nhập trên mỗi cổ phiếu (DPS), tỷ suất lợi nhuận ròng (ROS), tỷ lệ KNTT hiện hành (CR), tỷ lệ đảm bảo tài chính (FCCRPT) và vòng quay tài sản cố định (FATR); (iv) rủi ro tài chính tương quan nghịch với lợi nhuận ròng trên mỗi cổ phần (NOPS), lợi nhuận trên vốn dài hạn (ROLF), tỷ lệ KNTT nhanh (QR) và tỷ lệ KNTT lãi vay (IR); (v) rủi ro tài chính không tương quan với vòng quay hàng tồn kho (ITR) và vòng quay tổng tài sản (TATR).2 Các nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam đã được kiểm chứng bởi nghiên cứu (Hậu, 2017) khi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của 34 DN Bất động sản (BĐS) niêm yết tại Sở giao 9 dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 -2015. Nghiên cứu chỉ ra rằng rủi ro tài chính của các DN Bất động sản niêm yết trên TTCK Thành phố Hồ Chí Minh tưong quan đáng kể với các chỉ số thanh khoản, KNTT hành, KNTT nhanh, KNTT chung, vốn cố định; và không tương quan với cơ cấu nợ, tỷ suất sinh lợi trên doanh thu, tỷ suất sinh lợi của tài sản, vòng quay tổng tài sản, vòng quay các khoản phải thu, vòng quay tài sản cố định, vòng quay hàng tồn kho, khả năng tự tài trợ.
Tác giả (Dang, 2020) đã phân tích những nhân tố làm ảnh hưởng đến rủi ro tài chính trong DN niêm yết trên TTCK Việt Nam. Dữ liệu bảng của mẫu nghiên cứu bao gồm 524 DN phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong khoảng thời gian 11 năm, từ 2009 đến 2019. Bình phương tổng quát tối thiểu (GLS) được sử dụng để giải quyết các vấn đề kinh tế lượng và cải thiện độ chính xác của các hệ số hồi quy. Trong nghiên cứu này, rủi ro tài chính được đo lường bằng mô hình Alexander Bathory.
Cơ cấu nợ, khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi, khả năng hoạt động, cơ cấu nguồn vốn là các biến độc lập trong nghiên cứu. Quy mô công ty, tuổi công ty, tốc độ tăng trưởng là các biến kiểm soát. Kết quả mô hình cho thấy để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tài chính cho các DN có giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam cần chú ý đến các biến phản ánh Hệ số cơ cấu nợ phải trả, Hệ số thanh toán nhanh, Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, Vòng quay tổng tài sản, Vòng quay các khoản phải thu, Tài sản thuần tỷ lệ và tỷ lệ tài sản cố định. Kết quả thực nghiệm cho thấy có sự khác biệt về mức độ tác động của các nhân tố này đến rủi ro tài chính tại DN nhà nước và DN ngoài nhà nước niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của bài báo giúp ích cho các nhà quản lý DN đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tài chính trong DN. Nghiên cứu của (Nguyen et ai., 2019) về tác động của các nhân tố phản ánh khả năng thanh toán đến rủi ro phá sản của những công ty kinh doanh BĐS: bằng chứng từ TTCK Việt Nam. Trong bốn chỉ tiêu về khả năng thanh toán có hai chỉ tiêu có thể tác động đến rủi ro làm phá sản của công ty BĐS niêm yết trên sàn TTCK là dòng tiền hoạt động trên tổng nợ phải trả bình quân và vốn lưu động ròng trên tổng tài sản.