ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh viện là cơ sở trực tiếp khám, chữa bệnh và chăm lo sức khỏe toàn diện cho người bệnh. Một trong những nhiệm vụ quan trọng có ảnh hưởng đến chất lượng khám bệnh, chữa bệnh là quản lý cung ứng thuốc tại bệnh viện. Quản lý cung ứng thuốc bệnh viện là một chuỗi các hoạt động bao gồm từ việc lựa chọn thuốc, sau đó đến tổ chức mua sắm, cấp phát và sử dụng thuốc. Chu trình quản lý cung ứng thuốc có hiệu quả khi mỗi hoạt động đều được xây dựng dựa trên hoạt động trước đó và là nền tảng của hoạt động tiếp theo.
Tại Việt Nam, nhằm đảm bảo lựa chọn thuốc có chất lượng đồng thời đảm bảo chi phí hợp lý, tất cả thuốc sử dụng tại bệnh viện đều được quản lý mua sắm theo hình thức đấu thầu thuốc. Từ đó, hệ thống các văn bản, quy định liên quan đến đấu thầu thuốc được ban hành như Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 của Quốc Hội, Nghị định 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư 15/2019/TT-BYT của Bộ Y tế và các văn bản liên quan. Các văn bản trên được ban hành, hoàn thiện và cập nhật thường xuyên để các bệnh viện, cơ sở y tế trên toàn quốc tiến hành mua sắm thuốc để phục vụ người bệnh phù hợp với tình hình. Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí là bệnh viện đa khoa hạng I với quy mô 1200 gường, có nhiệm vụ khám và điều trị cho bệnh nhân trong địa bàn tỉnh Quảng Ninh và các khu vực lân cận.
Từ năm 2007 đến nay, Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí đã tổ chức đấu thầu mua thuốc nhằm bảo đảm cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời, chất lượng và giá cả hợp lý để phục vụ công tác điều trị, chăm sóc sức khỏe người bệnh. Việc quản lý cung ứng thuốc tại bệnh viện mặc dù đạt được những hiệu quả nhất định nhưng trong quá trình thực hiện kết quả đấu thầu bệnh viện vẫn còn gặp những tồn tại và vướng mắc. Sau khi có kết quả trúng thầu, trong quá trình thực hiện hợp đồng: một số thuốc không đạt tỷ lệ sử dụng theo quy định, một số nhà thầu gián đoạn cung cấp thuốc hoặc ngừng cung cấp cho các đơn vị do thuốc bị thu hồi, do hết hạn số đăng ký; một số mặt hàng thuốc xây dựng kế hoạch sử dụng chưa sát với nhu cầu thực tế, chậm thanh toán cho nhà thầu… Bệnh viện chưa có đề tài nào nghiên 1 cứu cụ thể, chi tiết thống kê và phân tích chính xác về thực trạng sử dụng danh mục thuốc trúng thầu của bệnh viện. Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Phân tích việc thực hiện kết quả trúng thầu thuốc tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí tỉnh Quảng Ninh năm 2022” với mục tiêu: - So sánh danh mục thuốc thực hiện với danh mục thuốc trúng thầu tại Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí tỉnh Quảng Ninh năm 2022.
Việc phân tích việc thực hiện kết quả trúng thầu nhằm đưa ra cái nhìn tổng thể về thực trạng sử dụng các thuốc trúng thầu tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí trong năm 2022. Từ kết quả nghiên cứu, đề tài mong muốn chỉ ra một số tồn tại trong quá trình sử dụng danh mục trúng thầu và đề xuất một số kiến nghị để việc sử dụng danh mục thuốc trúng thầu một cách hiệu quả, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng cung ứng thuốc tại bệnh viện. Mua sắm thuốc và các quy định trong đấu thầu mua thuốc 1. Tổng quan về đấu thầu mua sắm thuốc Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 đã định nghĩa về đấu thầu tại khoản 12 điều 4 của bộ luật như sau “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế” [1].
Khái niệm thuốc được định nghĩa tại khoản 2 điều 2 Luật Dược số 105/2016/QH13 “Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm” [2]. Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc đấu thầu thuốc và thực hiện kết quả trúng thầu thuốc Mua sắm thuốc là giai đoạn quan trọng trong cung ứng thuốc bệnh viện. Mua sắm thuốc hiệu quả là đảm bảo đúng thuốc, đúng số lượng với giá cả và tiêu chuẩn chất lượng được công nhận, không để người bệnh phải chi trả và sử dụng những loại thuốc đắt tiền không cần thiết. Sau khi xác định được nhu cầu sử dụng thuốc, bệnh viện tiến hành mua sắm thuốc theo các quy định/văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
Trong năm 2022, việc mua sắm thuốc tại các cơ sở y tế công lập được thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật sau: - Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 06/04/2016; - Luật Dược số 105/2016/QH13 ngày 06/04/2016; - Nghị định 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đấu thầu. về lựa chọn đấu thầu; - Thông tư 10/2015/TT-BKHĐT ngày 26/10/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định về kế hoạch lựa chọn nhà thầu. 3 - Thông tư 19/2015/TT-BKHĐT ngày 27/11/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, quy định chi tiết lập báo cáo thẩm định trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu; - Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/06/2012 về tổ chức và hoạt động khoa Dược bệnh viện - Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013 về quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện - Thông tư 15/2019/TT-BYT ngày 11/07/2018 của Bộ Y tế quy định về việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập. - Thông tư 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 về việc ban hành Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT.
- Thông tư 15/2020/TT-BYT ngày 10/08/2020 về về Danh mục thuốc đấu thầu, thuốc đấu thầu tập trung, thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá. - Thông tư 29/2020/TT-BYT ngày 31/12/2020 về việc sửa đổi bổ sung bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Y tế trong đó có sửa đổi quy định về nhóm tiêu chí kỹ thuật của thuốc dự thầu - Thông tư 15/2021/TT-BYT ngày 24/09/2021 của Bộ Y tế sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 15/2019/TT-BYT ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Bộ Y tế quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập. Các hình thức tổ chức thực hiện đấu thầu mua thuốc hiện nay Theo Thông tư 15/2019/TT-BYT, Bộ Y tế quy định các hình thức đấu thầu mua thuốc cho các cơ sở y tế công lập gồm có đấu thầu thuốc tập trung và tự tổ chức lựa chọn nhà thầu [3]. *) Đấu thầu tập trung: Điều 49 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định: “Mua thuốc tập trung được thực hiện ở cấp quốc gia và cấp địa phương” [1].
- Đấu thầu tập trung cấp quốc gia do Trung tâm Mua sắm tập trung thuốc Quốc gia tổ chức thực hiện đấu thầu thuốc thuộc danh mục đấu thầu tập trung cấp quốc gia theo quy định tại phụ lục II (chỉ đấu thầu thuốc nhóm 1 và nhóm 2) và Danh mục thuốc đàm phán giá theo quy định phụ lục IV thông tư 15/2020/TT-BYT [4]. 4 - Đấu thầu tập trung cấp địa phương: đơn vị mua sắm tập trung cấp địa phương tổ chức thực hiện đấu thầu danh mục thuốc gồm 129 hoạt chất theo quy định tại phụ lục III Thông tư 15/2020/TT-BYT [4]. Các cơ sở y tế căn cứ vào kết quả trúng thầu này để ký hợp đồng cung ứng thuốc với nhà thầu theo nhu cầu đã dự trù trước đó. Đấu thầu thuốc tập trung có nhiều ưu điểm trong việc tiết kiệm thời gian, chi phí đấu thầu so với đấu thầu riêng lẻ, đồng thời đảm bảo được sự thống nhất về giá thuốc trúng thầu và tăng cường hiệu quả kinh tế của gói thầu do gói thầu lớn và thời hạn hợp đồng dài hơn.
*) Đấu thầu riêng lẻ tại các cơ sở y tế: Cơ sở y tế tự tổ chức thực hiện đấu thầu danh mục thuốc ngoài danh mục đấu thầu tập trung cấp quốc gia, cấp địa phương và danh mục thuốc đàm phán giá theo nhu cầu sử dụng thuốc của đơn vị mình theo quy định tại phụ lục I thông tư 15/2020/TT-BYT. Ngoài ra, trong các trường hợp được quy định tại điều 18 Thông tư 15/2019/TT-BYT, bệnh viên cũng được tổ chức mua sắm các thuốc trong danh mục đấu thầu tập trung theo hướng dẫn để đảm bảo cung ứng thuốc tại đơn vị [3]. Đấu thầu riêng tại các cơ sở y tế giúp các cơ sở y tế chủ động, tự chủ trong hoạt động cung ứng thuốc. Ký kết hợp đồng và thực hiện kết quả trúng thầu Sau khi có kết quả trúng thầu, cơ sở y tế và nhà thầu phải tiến hành ký kết hợp đồng trước khi đưa thuốc vào sử dụng.
Trong điều 37 Thông tư 15/2019/TT-BYT đã quy định rất rõ trách nhiệm của nhà thầu trúng thầu và các cơ sở y tế khi thực hiện hợp đồng [3]. - Cơ sở khám chữa bệnh và nhà thầu trúng thầu chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng cung cấp thuốc, phải thực hiện tối thiểu 80% giá trị của từng phần trong hợp đồng đã ký kết. Đối với thuốc cấp cứu, thuốc giải độc, thuốc hiếm, thuốc kiểm soát đặc biệt, dịch truyền và những tình huống khác sau khi báo cáo cơ quan có thẩm quyền, cơ sở y tế bảo đảm thực hiện tối thiểu 50% giá trị của từng phần trong hợp đồng đã ký kết. 5 - Cơ sở y tế không được mua vượt số lượng thuốc của một nhóm thuốc trong kết quả lựa chọn nhà thầu nếu chưa mua hết số lượng thuốc trong các nhóm thuốc khác của cùng hoạt chất, cùng nồng độ hoặc hàm lượng, cùng dạng bào chế đã trúng thầu theo các hợp đồng đã ký.