Tổng quan nghiên cứu

Quản lý cung ứng thuốc tại bệnh viện đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe người bệnh. Tại Việt Nam, việc mua sắm thuốc được thực hiện chủ yếu qua hình thức đấu thầu nhằm đảm bảo thuốc có chất lượng, giá cả hợp lý và phù hợp với nhu cầu điều trị. Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, là bệnh viện đa khoa hạng I với quy mô 1200 giường bệnh, đã tổ chức đấu thầu mua thuốc từ năm 2007 nhằm bảo đảm cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời và chất lượng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện kết quả trúng thầu thuốc năm 2022, bệnh viện vẫn gặp nhiều tồn tại như thuốc không đạt tỷ lệ sử dụng theo quy định, gián đoạn cung cấp thuốc từ nhà thầu, kế hoạch sử dụng thuốc chưa sát thực tế, và chậm thanh toán cho nhà thầu.

Mục tiêu nghiên cứu là phân tích việc thực hiện kết quả trúng thầu thuốc tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí năm 2022, so sánh danh mục thuốc thực hiện với danh mục thuốc trúng thầu, từ đó đánh giá thực trạng sử dụng thuốc trúng thầu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý cung ứng thuốc. Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 8/2021 đến tháng 12/2022, tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc tối ưu hóa quy trình đấu thầu, nâng cao tỷ lệ sử dụng thuốc trúng thầu, góp phần giảm lãng phí và nâng cao chất lượng điều trị tại bệnh viện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết và mô hình quản lý cung ứng thuốc trong bệnh viện, bao gồm:

  • Lý thuyết quản lý chuỗi cung ứng thuốc: Nhấn mạnh sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu lựa chọn thuốc, đấu thầu, ký kết hợp đồng và sử dụng thuốc nhằm đảm bảo hiệu quả và an toàn.
  • Mô hình đánh giá hiệu quả đấu thầu thuốc: Tập trung vào tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu, tỷ lệ thuốc không sử dụng, và nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng cung ứng thuốc.
  • Các khái niệm chính: thuốc trúng thầu, thuốc thực hiện, tỷ lệ thực hiện thầu, gói thầu thuốc generic, biệt dược gốc, phân loại VEN (thuốc thiết yếu, thuốc cần thiết, thuốc không thiết yếu), và nhóm tác dụng dược lý theo Thông tư 30/2018/TT-BYT.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, hồi cứu số liệu từ các tài liệu sẵn có và phần mềm quản lý thuốc của bệnh viện. Mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ 313 thuốc trúng thầu và 301 thuốc thực hiện tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí trong giai đoạn từ 31/08/2021 đến 31/12/2022.

Dữ liệu được thu thập qua biểu mẫu trên phần mềm Microsoft Excel 2016, bao gồm thông tin về tên thuốc, hoạt chất, hàm lượng, nguồn gốc, số lượng trúng thầu, số lượng thực hiện, đơn giá, nhóm tác dụng dược lý, gói thầu và tiêu chí kỹ thuật. Phân tích số liệu sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm, và phân tích tỉ trọng. Các chỉ số nghiên cứu được tính toán theo công thức tỷ lệ phần trăm số khoản mục, giá trị thực hiện so với trúng thầu.

Quá trình nghiên cứu được thực hiện từ tháng 7/2023 đến tháng 1/2024, đảm bảo tuân thủ các quy định đạo đức nghiên cứu và được sự đồng ý của lãnh đạo bệnh viện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu: Trong tổng số 313 thuốc trúng thầu, có 24 thuốc (7,67% số khoản mục) không được sử dụng, tương ứng giá trị 3.032 triệu đồng. Thuốc thực hiện chiếm 92,33% số khoản mục, trong đó 66,45% thuốc thực hiện trong tỷ lệ 80-120% theo quy định, 25,88% thực hiện dưới 80%, không có thuốc vượt quá 120%.

  2. Phân bố thuốc không thực hiện và thực hiện dưới 80% theo gói thầu: Thuốc biệt dược gốc chiếm 54,17% số khoản mục không thực hiện và 55,67% giá trị, trong khi thuốc generic chiếm 45,83% số khoản mục không thực hiện. Thuốc generic có tỷ lệ thực hiện dưới 80% chiếm 60,49% số khoản mục, giá trị chiếm 59,38%.

  3. Phân bố theo nguồn gốc xuất xứ: Thuốc nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao hơn về số khoản mục và giá trị trong cả nhóm thuốc không thực hiện và thực hiện dưới 80%, lần lượt là 91,67% và 83,95% về số khoản mục, 85,81% và 14,19% về giá trị.

  4. Phân bố theo nhóm tác dụng dược lý: Nhóm thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch có tỷ lệ không thực hiện cao nhất (29,17% số khoản mục, 77,56% giá trị). Nhóm thuốc tim mạch chiếm tỷ lệ thực hiện dưới 80% cao nhất về số khoản mục (23,53%) nhưng giá trị chỉ chiếm 5,09%. Các nhóm thuốc khác như thuốc chống nhiễm khuẩn, thuốc dùng chẩn đoán cũng có tỷ lệ không thực hiện và thực hiện dưới 80% đáng kể.

  5. Nguyên nhân không đạt tỷ lệ thực hiện 80-120%: Chủ yếu do công ty không đủ hàng cung ứng (18,1%), số lượng bệnh nhân thay đổi sau dịch Covid-19 (14,29%), sử dụng tồn kho cũ (13,33%), dự trù không sát thực tế (12,38%). Các nguyên nhân khác gồm thuốc có thuốc thay thế, thay đổi phác đồ điều trị, thuốc mới ít sử dụng, thuốc cấp cứu ít dùng, và các vấn đề về thanh toán.

Thảo luận kết quả

Kết quả cho thấy tỷ lệ thực hiện thuốc trúng thầu tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí năm 2022 đạt 92,33% về số khoản mục, trong đó phần lớn thuốc thực hiện đúng tỷ lệ quy định 80-120%. Tuy nhiên, vẫn còn 7,67% thuốc không được sử dụng, gây lãng phí nguồn lực và ảnh hưởng đến hiệu quả cung ứng thuốc. Tỷ lệ thuốc thực hiện dưới 80% chiếm gần 26%, phản ánh sự chưa sát thực tế trong dự trù nhu cầu và khó khăn trong cung ứng thuốc.

So sánh với các nghiên cứu tại các bệnh viện khác, tỷ lệ thuốc không sử dụng và thực hiện dưới 80% cũng phổ biến, ví dụ tại Bệnh viện Quân dân y miền Đông-Quân khu 7 năm 2018 tỷ lệ thuốc không sử dụng là 35,8%, tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2021 là 33,52%. Nguyên nhân chủ yếu từ phía bệnh viện như dự trù không sát thực tế, thay đổi mô hình bệnh tật, số lượng bệnh nhân giảm do dịch bệnh, cũng như từ phía nhà thầu như không đủ khả năng cung ứng, gián đoạn cung cấp thuốc.

Việc thuốc nhập khẩu chiếm tỷ lệ lớn trong nhóm không thực hiện và thực hiện dưới 80% có thể do khó khăn trong nhập khẩu, gia hạn số đăng ký, hoặc giá thuốc cao hơn thuốc sản xuất trong nước. Nhóm thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch có giá trị lớn không thực hiện cao, ảnh hưởng đáng kể đến chi phí và hiệu quả điều trị.

Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ cột thể hiện tỷ lệ thuốc không thực hiện và thực hiện dưới 80% theo nhóm tác dụng dược lý, biểu đồ tròn phân bố nguyên nhân không đạt tỷ lệ thực hiện, và bảng so sánh tỷ lệ thực hiện theo gói thầu và nguồn gốc xuất xứ.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Cải thiện dự trù nhu cầu thuốc: Tăng cường phối hợp giữa khoa Dược và các khoa lâm sàng để xây dựng kế hoạch dự trù sát với nhu cầu thực tế, giảm tồn kho và thuốc không sử dụng. Thời gian thực hiện: 6 tháng; Chủ thể: Ban Giám đốc bệnh viện, Khoa Dược.

  2. Tăng cường giám sát và quản lý hợp đồng cung ứng thuốc: Thiết lập hệ thống theo dõi tiến độ cung ứng thuốc từ nhà thầu, xử lý kịp thời các trường hợp gián đoạn, đảm bảo nhà thầu thực hiện đúng cam kết. Thời gian: liên tục; Chủ thể: Phòng Quản lý vật tư, Khoa Dược.

  3. Ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước: Xem xét tăng tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước trong danh mục đấu thầu để giảm chi phí và tăng tính ổn định nguồn cung. Thời gian: 1 năm; Chủ thể: Hội đồng thuốc và điều trị, Ban Giám đốc.

  4. Đào tạo và nâng cao nhận thức cán bộ y tế: Tổ chức các khóa đào tạo về quản lý cung ứng thuốc, sử dụng thuốc hợp lý, và quy trình đấu thầu để nâng cao hiệu quả thực hiện. Thời gian: 6 tháng; Chủ thể: Phòng Đào tạo, Khoa Dược.

  5. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ với nhà thầu: Thiết lập kênh thông tin thường xuyên, trao đổi về nhu cầu, khó khăn trong cung ứng, và điều chỉnh hợp đồng phù hợp với tình hình thực tế. Thời gian: liên tục; Chủ thể: Ban Giám đốc, Phòng Quản lý vật tư.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban Giám đốc và quản lý bệnh viện: Giúp hiểu rõ thực trạng quản lý cung ứng thuốc, từ đó xây dựng chính sách và kế hoạch đấu thầu phù hợp, nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc.

  2. Khoa Dược và phòng Quản lý vật tư: Cung cấp dữ liệu và phân tích chi tiết về việc thực hiện kết quả trúng thầu, hỗ trợ công tác dự trù, giám sát cung ứng và sử dụng thuốc.

  3. Nhà thầu cung ứng thuốc: Hiểu rõ các khó khăn, nguyên nhân dẫn đến việc không thực hiện hoặc thực hiện dưới tỷ lệ quy định, từ đó cải thiện năng lực cung ứng và phối hợp với bệnh viện.

  4. Các nhà nghiên cứu và sinh viên chuyên ngành quản lý dược, y tế công cộng: Là tài liệu tham khảo quý giá về phương pháp nghiên cứu, phân tích dữ liệu thực tế trong lĩnh vực đấu thầu và quản lý cung ứng thuốc tại bệnh viện.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao một số thuốc trúng thầu lại không được sử dụng?
    Nguyên nhân chính gồm sử dụng tồn kho cũ, không có nhu cầu sử dụng do thay đổi mô hình bệnh tật hoặc phác đồ điều trị, và gián đoạn cung ứng từ nhà thầu. Ví dụ, tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí, 7,67% thuốc trúng thầu không được sử dụng trong năm 2022.

  2. Tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu thuốc như thế nào là hợp lý?
    Theo quy định, tỷ lệ thực hiện tối thiểu là 80% số lượng thuốc trúng thầu. Nghiên cứu cho thấy tại bệnh viện này, 66,45% thuốc thực hiện trong khoảng 80-120%, còn lại có 25,88% thực hiện dưới 80%, phản ánh cần cải thiện dự trù và quản lý.

  3. Nguyên nhân từ phía nhà thầu ảnh hưởng thế nào đến việc thực hiện kết quả trúng thầu?
    Nhà thầu không đủ khả năng cung ứng, gián đoạn cung cấp thuốc, hoặc giá thuốc quá thấp dẫn đến không đủ kinh phí thực hiện hợp đồng. Tại bệnh viện, 18,1% nguyên nhân không đạt tỷ lệ thực hiện là do nhà thầu không đủ hàng cung ứng.

  4. Việc ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước có lợi ích gì?
    Giúp giảm chi phí điều trị, tăng tính ổn định nguồn cung, và thúc đẩy phát triển ngành dược trong nước. Tuy nhiên, tỷ lệ thuốc nhập khẩu chiếm phần lớn trong nhóm không thực hiện, cho thấy cần cân nhắc kỹ trong lựa chọn thuốc.

  5. Làm thế nào để nâng cao hiệu quả quản lý cung ứng thuốc tại bệnh viện?
    Cần cải thiện dự trù nhu cầu thuốc, tăng cường giám sát hợp đồng cung ứng, đào tạo nhân viên y tế, và xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ với nhà thầu. Các giải pháp này giúp giảm lãng phí, đảm bảo thuốc được cung ứng đầy đủ và sử dụng hợp lý.

Kết luận

  • Tỷ lệ thực hiện thuốc trúng thầu tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí năm 2022 đạt 92,33% về số khoản mục, trong đó 66,45% thuốc thực hiện đúng tỷ lệ 80-120%.
  • Thuốc không thực hiện chiếm 7,67% số khoản mục, chủ yếu là thuốc biệt dược gốc và thuốc nhập khẩu, gây ảnh hưởng đến hiệu quả cung ứng thuốc.
  • Nguyên nhân không đạt tỷ lệ thực hiện chủ yếu do nhà thầu không đủ khả năng cung ứng, thay đổi số lượng bệnh nhân sau dịch Covid-19, tồn kho cũ và dự trù không sát thực tế.
  • Cần cải thiện dự trù nhu cầu, tăng cường giám sát hợp đồng, ưu tiên thuốc sản xuất trong nước và nâng cao năng lực phối hợp giữa bệnh viện và nhà thầu.
  • Nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu và phân tích chi tiết, làm nền tảng cho các bước tiếp theo trong việc nâng cao hiệu quả quản lý cung ứng thuốc tại bệnh viện.

Ban Giám đốc và Khoa Dược nên triển khai các giải pháp đề xuất trong vòng 6-12 tháng tới, đồng thời tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả để điều chỉnh kịp thời. Đề nghị các bên liên quan phối hợp chặt chẽ nhằm đảm bảo cung ứng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả.