Tổng quan nghiên cứu

Việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập là một trong những giải pháp quan trọng nhằm đảm bảo cung ứng thuốc đầy đủ, kịp thời, chất lượng và giá cả hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị và tiết kiệm chi phí y tế. Tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, tổng giá trị sử dụng thuốc hàng năm đạt khoảng hơn 200 tỷ đồng, với mô hình bệnh tật chủ yếu liên quan đến các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là dịch Covid-19 trong giai đoạn 2021-2022 chiếm tỷ lệ 27,7% tổng số bệnh án. Tuy nhiên, tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu thuốc tại bệnh viện trong giai đoạn này chỉ đạt khoảng 67,7% về giá trị, thấp hơn mức tối thiểu 80% theo quy định của Thông tư 15/2019/TT-BYT.

Nghiên cứu nhằm phân tích việc thực hiện kết quả trúng thầu thuốc tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương trong năm 2021-2022, so sánh thuốc đã sử dụng với thuốc trúng thầu, đồng thời làm rõ nguyên nhân tồn tại trong việc thực hiện kết quả trúng thầu. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại bệnh viện với dữ liệu thu thập từ hồ sơ đấu thầu, phần mềm quản lý thuốc và các báo cáo liên quan trong hai năm 2021 và 2022. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh danh mục thuốc, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng thuốc, góp phần thực hiện mục tiêu tiết kiệm chi phí và đảm bảo chất lượng điều trị tại bệnh viện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết và mô hình quản lý dược học, bao gồm:

  • Lý thuyết đấu thầu thuốc: Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc đảm bảo cạnh tranh, minh bạch và hiệu quả kinh tế theo Luật đấu thầu số 43/2013/QH13. Thông tư 15/2019/TT-BYT quy định chi tiết về phân nhóm thuốc theo tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu.
  • Mô hình phân tích sử dụng thuốc VEN và ABC: Phân tích VEN (Vital, Essential, Non-essential) giúp xác định ưu tiên trong mua sắm và tồn trữ thuốc dựa trên mức độ quan trọng và hiệu quả điều trị. Phân tích ABC dựa trên chi phí sử dụng thuốc để đánh giá mức độ tiêu thụ và chi phí.
  • Khái niệm về quản lý danh mục thuốc: Danh mục thuốc trúng thầu được phân chia theo cấp đấu thầu (quốc gia, địa phương, tại viện), nhóm tiêu chuẩn kỹ thuật (generic, biệt dược gốc, thuốc cổ truyền), nguồn gốc xuất xứ (thuốc trong nước, nhập khẩu) và nhóm tác dụng dược lý.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng và định tính:

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu định lượng được thu thập từ hồ sơ kết quả trúng thầu năm 2021-2022, phần mềm quản lý thuốc của bệnh viện, báo cáo công tác dược và các công văn của nhà thầu. Dữ liệu định tính thu thập qua thảo luận nhóm với 17 thành viên Hội đồng thuốc và điều trị.
  • Cỡ mẫu: Bao gồm 580 khoản mục thuốc trúng thầu (58 khoản mục cấp quốc gia, 94 cấp địa phương, 428 tại viện) và 421 khoản mục thuốc sử dụng thực tế trong giai đoạn nghiên cứu.
  • Phương pháp chọn mẫu: Lựa chọn toàn bộ danh mục thuốc trúng thầu và sử dụng trong năm 2021-2022, loại trừ thuốc viện trợ, tặng và chương trình.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2010 với các công cụ thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm, phân tích tỉ trọng, hàm Pivot table để tổng hợp và phân tích số liệu. Phân tích định tính được thực hiện qua mã hóa và tổng hợp ý kiến thảo luận nhóm.
  • Timeline nghiên cứu: Thu thập và phân tích dữ liệu trong năm 2023, thảo luận nhóm và hoàn thiện báo cáo trong quý đầu năm 2024.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu thấp hơn yêu cầu: Tổng số 580 khoản mục thuốc trúng thầu, chỉ có 421 khoản mục được sử dụng, đạt tỷ lệ 72,6% về số khoản mục và 67,7% về giá trị, chưa đạt mức tối thiểu 80% theo quy định. Tỷ lệ thực hiện theo cấp đấu thầu: thầu tập trung cấp địa phương đạt 73,5%, cấp quốc gia 69,3%, thầu tại viện thấp nhất 67,7%.

  2. Chênh lệch tỷ lệ thực hiện theo nhóm tiêu chuẩn kỹ thuật và nguồn gốc: Thuốc biệt dược gốc hoặc tương đương điều trị có tỷ lệ thực hiện cao nhất 72,2%, thuốc generic thấp hơn 59,2%. Thuốc sản xuất trong nước có tỷ lệ thực hiện về số khoản mục 76,4% nhưng về giá trị chỉ đạt 10,1%, thấp hơn thuốc nhập khẩu.

  3. Tỷ lệ thuốc không thực hiện hoặc thực hiện dưới 80% cao: Có 27,4% khoản mục thuốc trúng thầu không được sử dụng, 41,4% khoản mục thực hiện dưới 80%. Một số nhóm thuốc như thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm 62,8% giá trị sử dụng nhưng tỷ lệ thực hiện chỉ đạt 68,4%. Nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn có nhiều nhóm kháng sinh với tỷ lệ thực hiện dưới 80%, đặc biệt nhóm Sulfonamid chỉ đạt 6,3%.

  4. Nguyên nhân tồn tại trong thực hiện kết quả trúng thầu: Phân tích nguyên nhân cho thấy 63,6% nguyên nhân do phía bệnh viện như dự trù không sát nhu cầu, vướng mắc thủ tục thanh toán, dự trù nhiều dạng bào chế cùng hoạt chất, tồn kho lớn; 16,9% do nhà thầu không có hàng hoặc hạn dùng gần; 18,6% nguyên nhân khác. Tình trạng thuốc trúng thầu không thực hiện hoặc thực hiện dưới 80% phổ biến, ảnh hưởng đến hiệu quả đấu thầu.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu thuốc tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương thấp hơn mức quy định 80% phản ánh những khó khăn trong quản lý và sử dụng thuốc. Nguyên nhân chủ yếu từ việc dự trù không sát với nhu cầu thực tế, do mô hình bệnh tật thay đổi nhanh, đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19, dẫn đến kế hoạch đấu thầu không kịp thời điều chỉnh. So sánh với các nghiên cứu tại các bệnh viện khác, tỷ lệ thực hiện tại bệnh viện này tương đồng hoặc thấp hơn, cho thấy vấn đề chung trong hệ thống y tế công lập.

Việc tỷ lệ thực hiện thuốc sản xuất trong nước thấp hơn thuốc nhập khẩu cho thấy cần có chính sách ưu tiên và hỗ trợ để thúc đẩy sử dụng thuốc trong nước, phù hợp với Đề án "Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam". Các nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn có tỷ lệ thực hiện thấp là vấn đề đáng lưu ý, do đây là nhóm thuốc quan trọng trong điều trị bệnh truyền nhiễm, cần kiểm soát chặt chẽ để tránh lãng phí và kháng thuốc.

Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ cột thể hiện tỷ lệ thực hiện theo nhóm thuốc, bảng so sánh tỷ lệ thực hiện theo cấp đấu thầu và nguồn gốc thuốc, giúp minh họa rõ ràng các điểm mạnh và tồn tại. Kết quả thảo luận nhóm cũng làm rõ các nguyên nhân chi tiết, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Cải thiện công tác dự trù thuốc: Áp dụng phương pháp dự báo nhu cầu dựa trên mô hình bệnh tật thực tế và dữ liệu sử dụng thuốc hàng năm, cập nhật thường xuyên để điều chỉnh kế hoạch đấu thầu phù hợp. Chủ thể thực hiện: Khoa Dược phối hợp phòng kế hoạch tổng hợp, thời gian: triển khai ngay trong năm 2024.

  2. Tăng cường quản lý và giám sát thực hiện hợp đồng đấu thầu: Thiết lập hệ thống theo dõi, đánh giá định kỳ tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu, xử lý kịp thời các vướng mắc về thủ tục thanh toán và cung ứng thuốc. Chủ thể: Ban giám đốc bệnh viện và Hội đồng thuốc và điều trị, thời gian: quý 2/2024.

  3. Ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước: Xây dựng chính sách ưu đãi, khuyến khích sử dụng thuốc trong nước đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, đồng thời phối hợp với nhà sản xuất để đảm bảo nguồn cung ổn định. Chủ thể: Phòng quản lý dược, thời gian: kế hoạch 2024-2025.

  4. Tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức về sử dụng thuốc hợp lý: Tổ chức các khóa đào tạo cho cán bộ y tế về quản lý thuốc, sử dụng thuốc hợp lý, đặc biệt nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn để giảm lãng phí và kháng thuốc. Chủ thể: Khoa Dược và Viện Đào tạo bệnh truyền nhiễm, thời gian: triển khai trong năm 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban giám đốc và quản lý bệnh viện: Giúp hiểu rõ thực trạng và nguyên nhân tồn tại trong quản lý đấu thầu thuốc, từ đó xây dựng chính sách và kế hoạch phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc.

  2. Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT): Cung cấp cơ sở khoa học để điều chỉnh danh mục thuốc, lựa chọn thuốc ưu tiên, kiểm soát việc thực hiện hợp đồng đấu thầu, đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý và tiết kiệm.

  3. Phòng quản lý dược và kế hoạch tổng hợp: Hỗ trợ trong công tác dự trù, lập kế hoạch đấu thầu và giám sát thực hiện, từ đó giảm thiểu tình trạng thuốc trúng thầu không được sử dụng hoặc sử dụng vượt mức.

  4. Các nhà nghiên cứu và sinh viên ngành Dược học, Quản lý y tế: Là tài liệu tham khảo quý giá về phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính trong lĩnh vực quản lý dược, đồng thời cung cấp dữ liệu thực tiễn về đấu thầu thuốc tại bệnh viện tuyến trung ương.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu thuốc tại bệnh viện chưa đạt 80%?
    Nguyên nhân chính là do dự trù thuốc không sát với nhu cầu thực tế, thay đổi mô hình bệnh tật, vướng mắc thủ tục thanh toán và nhà thầu không cung ứng đủ hàng. Ví dụ, trong năm 2021-2022, có 27,4% khoản mục thuốc trúng thầu không được sử dụng.

  2. Việc sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại bệnh viện như thế nào?
    Tỷ lệ sử dụng thuốc trong nước về số khoản mục đạt 76,4%, nhưng về giá trị chỉ đạt 10,1%, thấp hơn thuốc nhập khẩu. Điều này cho thấy cần có chính sách ưu tiên và hỗ trợ để tăng tỷ lệ sử dụng thuốc trong nước.

  3. Nhóm thuốc nào có tỷ lệ thực hiện thấp nhất?
    Nhóm thuốc điều trị bệnh da liễu, thuốc dùng chẩn đoán và thuốc có tác dụng thúc đẻ, cầm máu sau đẻ có tỷ lệ thực hiện dưới 30%, thậm chí có nhóm chỉ đạt 1% về giá trị sử dụng so với trúng thầu.

  4. Làm thế nào để cải thiện việc thực hiện kết quả trúng thầu?
    Cần cải thiện công tác dự trù thuốc dựa trên dữ liệu thực tế, tăng cường giám sát hợp đồng, ưu tiên sử dụng thuốc trong nước và đào tạo cán bộ y tế về quản lý và sử dụng thuốc hợp lý.

  5. Nghiên cứu này có thể áp dụng cho các bệnh viện khác không?
    Có, phương pháp và kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tham khảo cho các bệnh viện tuyến trung ương và địa phương trong việc đánh giá và cải thiện công tác đấu thầu thuốc, phù hợp với đặc thù từng đơn vị.

Kết luận

  • Tỷ lệ thực hiện kết quả trúng thầu thuốc tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương năm 2021-2022 đạt 67,7% về giá trị, chưa đáp ứng yêu cầu tối thiểu 80%.
  • Nguyên nhân chủ yếu do dự trù không sát nhu cầu, vướng mắc thủ tục thanh toán và nhà thầu không cung ứng đủ thuốc.
  • Thuốc sản xuất trong nước có tỷ lệ sử dụng thấp hơn thuốc nhập khẩu, cần có chính sách ưu tiên thúc đẩy.
  • Nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn có tỷ lệ thực hiện thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và quản lý kháng thuốc.
  • Đề xuất các giải pháp cải thiện dự trù, giám sát hợp đồng, ưu tiên thuốc trong nước và đào tạo cán bộ y tế để nâng cao hiệu quả đấu thầu thuốc.

Next steps: Triển khai các giải pháp đề xuất trong năm 2024, theo dõi và đánh giá hiệu quả thực hiện, cập nhật kế hoạch đấu thầu phù hợp với mô hình bệnh tật và nhu cầu sử dụng thuốc thực tế.

Call-to-action: Các đơn vị quản lý và điều hành bệnh viện cần phối hợp chặt chẽ để thực hiện các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng thuốc, góp phần cải thiện chất lượng khám chữa bệnh và tiết kiệm chi phí y tế.