Kha Vĩnh Xuyên: Luận văn phân tích kết quả đấu thầu thuốc tại Sở Y tế Kiên Giang 2017

Phân tích kết quả đấu thầu thuốc tại Sở Y tế Kiên Giang năm 2017. Luận văn trình bày quy trình, số liệu và so sánh cơ cấu thuốc trúng thầu.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp II

2020

110
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đấu thầu thuốc tại Sở Y tế Kiên Giang năm 2017

Đấu thầu thuốc là một quá trình quan trọng trong quản lý chi phí và đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế. Tại Sở Y tế Kiên Giang năm 2017, hoạt động đấu thầu mua thuốc được thực hiện theo Thông tư 11/2016/TT-BYT của Bộ Y tế. Quá trình này nhằm lựa chọn nhà thầu uy tín, có năng lực cung cấp thuốc chất lượng cao với giá cạnh tranh. Việc phân tích kết quả đấu thầu giúp đánh giá hiệu quả của quá trình mua sắm, từ đó nâng cao chất lượng quản lý dược tại các cơ sở khám chữa bệnh. Luận văn Dược sĩ chuyên khoa này tập trung vào việc phân tích toàn diện kết quả đấu thầu, cơ cấu thuốc được sử dụng, và mức độ thực hiện các gói thầu đã trúng. Mục tiêu là cung cấp những kiến nghị cải thiện cho các bên liên quan.

1.1. Khái niệm và hình thức đấu thầu thuốc

Đấu thầu thuốc là phương thức lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc thông qua quá trình cạnh tranh công khai. Có hai hình thức chính: đấu thầu tập trung do Sở Y tế tổ chức cho toàn tỉnh, và đấu thầu riêng lẻ của các cơ sở khám chữa bệnh. Phương thức lựa chọn nhà thầu dựa trên tiêu chuẩn năng lực, kinh nghiệm, kỹ thuật và giá cạnh tranh nhất.

1.2. Vai trò của phân tích kết quả đấu thầu

Phân tích kết quả đấu thầu giúp đánh giá hiệu quả quản lý dượcmua sắm thuốc tại Sở Y tế Kiên Giang. Việc so sánh cơ cấu thuốc sử dụng với cơ cấu thuốc trúng thầu cho phép xác định độ khớp, phát hiện thuốc trúng thầu không được sử dụng, và đề xuất kiến nghị cải thiện cho quá trình đấu thầu năm tiếp theo.

II. Quy trình đấu thầu thuốc và tiêu chuẩn đánh giá

Quy trình đấu thầu thuốc tại Sở Y tế Kiên Giang tuân thủ Thông tư 11/2016/TT-BYT với các giai đoạn rõ ràng: lập kế hoạch, dự thầu, đánh giá và xác định nhà thầu trúng thầu. Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu bao gồm đánh giá về năng lực kinh nghiệm như năm hoạt động, khả năng cung cấp, và tiêu chuẩn đánh giá kỹ thuật như chất lượng thuốc, đáp ứng yêu cầu về hoạt chất, hàm lượng, dạng bào chế. Ngoài ra, tiêu chuẩn xét duyệt thuốc trúng thầu bao gồm việc kiểm tra giấy phép lưu hành, chứng chỉ chất lượng và sự phù hợp với danh mục mời thầu. Quá trình này đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong lựa chọn nhà thầu cung cấp thuốc cho hệ thống y tế Kiên Giang.

2.1. Giai đoạn lập kế hoạch và dự thầu

Giai đoạn lập kế hoạch đấu thầu bao gồm xác định danh mục mời thầu, dự toán giá, và thời gian thực hiện. Giai đoạn dự thầu là khi nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu với các tài liệu chứng minh năng lực kinh nghiệmdự án kỹ thuật chi tiết từng mặt hàng thuốc. Đánh giá năng lực kinh nghiệm xác định điều kiện tối thiểu của nhà thầu về tài chính, kỹ thuật.

2.2. Tiêu chuẩn xét duyệt thuốc trúng thầu

Tiêu chuẩn xét duyệt bao gồm kiểm tra giấy phép lưu hành, chứng chỉ chất lượng, thành phần hoạt chất, hàm lượng, dạng bào chế, và quy cách đóng gói. Thuốc trúng thầu phải được Cục Quản lý Dược cấp phép lưu hành tại Việt Nam và đáp ứng đầy đủ yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật trong gói thầu.

III. Kết quả đấu thầu thuốc tại Sở Y tế Kiên Giang năm 2017

Kết quả đấu thầu thuốc năm 2017 tại Sở Y tế Kiên Giang cho thấy cơ cấu thuốc trúng thầu bao gồm nhiều nhóm tác dụng dược lý khác nhau để đáp ứng nhu cầu điều trị. Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ nhà thầu có mặt hàng đạt yêu cầu kỹ thuậttỷ lệ nhà thầu trúng thầu có sự biến động giữa các gói thầu. Một số mặt hàng không trúng thầu do không đáp ứng tiêu chuẩn đánh giá hoặc không có nhà thầu dự thầu. Cơ cấu thuốc trúng thầu phản ánh sự cân đối giữa kháng sinh, thuốc tim mạch, thuốc tiêu hóa và các nhóm khác. Việc so sánh thuốc sử dụng thực tế với thuốc trúng thầu cho thấy mức độ thực hiện kết quả đấu thầu và những thuốc trúng thầu không được sử dụng, phản ánh chất lượng quy hoạch danh mục mời thầu.

3.1. Cơ cấu và nguyên nhân không trúng thầu

Cơ cấu thuốc dự thầu so với danh mục mời thầu cho thấy nhà thầu chào nhiều hoặc ít hơn số mặt hàng được mời. Nguyên nhân không trúng thầu của mặt hàng bao gồm: không có nhà thầu dự thầu, không đạt yêu cầu kỹ thuật, giá quá cao, hoặc hồ sơ không hoàn chỉnh. Phân tích mặt hàng không trúng thầu từng gói thầu giúp xác định vấn đề trong quy hoạch danh mục mời thầu.

3.2. So sánh theo phân hạng cơ sở khám chữa bệnh

Kết quả đấu thầu được phân tích theo phân hạng cơ sở khám chữa bệnh (bệnh viện tỉnh, huyện, xã) để đánh giá sự thực hiện ở từng cấp. Mức độ sử dụng thuốc trúng thầu khác nhau giữa các cơ sở, phản ánh các yếu tố như nhu cầu điều trị từng địa phương, điều kiện lưu trữ, và khả năng quản lý dược.

IV. So sánh cơ cấu thuốc sử dụng với cơ cấu thuốc trúng thầu

So sánh cơ cấu thuốc sử dụng với cơ cấu thuốc trúng thầu là nội dung quan trọng giúp đánh giá hiệu quả của kế hoạch đấu thầu. Tỷ lệ thuốc sử dụng so với kết quả trúng thầu cho biết mức độ thực hiện các gói thầu đã ký kết. Phân tích theo nhóm thuốc cho thấy tỷ lệ sử dụng kháng sinh, thuốc tim mạch, thuốc hô hấp khác nhau. Thuốc trúng thầu không được sử dụng có thể do: nhu cầu thấp hơn dự kiến, chất lượng không như kỳ vọng, hoặc hạn sử dụng sắp hết. So sánh theo xuất xứ (thuốc ngoại, thuốc trong nước) cho thấy tỷ lệ sử dụng mỗi loại. Phân tích theo nhóm tác dụng dược lý giúp xác định yêu cầu điều trị thực tế và đề xuất cải tiến danh mục mời thầu cho các năm tiếp theo. Những phát hiện này cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho quản lý dượcquy hoạch mua sắm.

4.1. Phân tích sử dụng theo nhóm kháng sinh

Kháng sinh là nhóm thuốc được sử dụng phổ biến. So sánh tỷ lệ sử dụng kháng sinh trúng thầu cho thấy mặt hàng nào được sử dụng nhiều, ít hoặc không sử dụng. Phân tích giúp tối ưu hóa danh mục kháng sinh phù hợp với tỷ lệ bệnh nhiễm khuẩn và kháng thuốc tại địa phương, đảm bảo sử dụng kháng sinh hợp lý và phòng chống kháng thuốc.

4.2. Kiến nghị cải thiện quản lý và quy hoạch

Kiến nghị cho Sở Y tế bao gồm: cập nhật danh mục mời thầu dựa trên dữ liệu sử dụng thực tế, tăng cường kiểm soát chất lượng thuốc trúng thầu. Kiến nghị cho nhà thầu là cải thiện dịch vụ sau bán hàng, nhà thầu nên tham gia tập huấn sử dụng hợp lý. Kiến nghị cho Bộ Y tế là hoàn thiện quy định đấu thầugiám sát thực hiện kết quả đấu thầu tại địa phương.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Một trong những mục tiêu trọng tâm của chiến lƣợc quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020 là đảm bảo cung ứng đủ thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế và thiết bị y tế có chất lƣợng với giá cả hợp lý, đáp ứng nhu cầu phòng chữa bệnh của nhân dân [2]. Để đạt đƣợc mục tiêu đó, Bộ Y tế đã tham mƣu với Chính phủ ban hành nhiều văn bản quan trọng, trong đó đặc biệt quan tâm đến vấn đề đấu thầu thuốc. Phƣơng thức đấu thầu thuốc đƣợc sử dụng chủ yếu ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay là đấu thầu rộng rãi [18] với mục đích các cơ sở y tế có cơ hội lựa chọn đƣợc thuốc đảm bảo tiêu chuẩn chất lƣợng, ổn định về giá tại địa phƣơng đó và nhu cầu mua thuốc trong thời gian dài. Đồng thời việc quản lý và thanh kiểm tra công tác khám chữa bệnh cũng thuận lợi hơn cho các cơ quan chức năng thông qua đấu thầu thuốc.

Đấu thầu mua thuốc là vấn đề rất đƣợc quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nƣớc, đặc biệt là việc quản lý giá thuốc, thống nhất giá thuốc và quản lý chất lƣợng thuốc. Điều đó thể hiện qua hệ thống văn bản quy phạn pháp luật về hoạt động đấu thầu đƣợc thay đổi qua từng giai đoạn. Chỉ trong mƣời năm trở lại đây, Thông tƣ hƣớng dẫn thực hiện đấu thầu mua thuốc tại các cơ sở y tế công lập đã qua rất nhiều lần thay đổi: Thông tƣ 10/2007/TT-BYT năm 2007, Thông tƣ 01/2012/TTLT-BYT-BTC và Thông tƣ 36/2013/TTLT-BYT-BTC và hiện nay là Thông tƣ 11/2016/TT-BYT. Các Thông tƣ sau ra đời hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với các quy định thay đổi của luật đấu thầu và khắc phục những bất cập tồn tại của các Thông tƣ trƣớc.

Sở Y tế Kiên Giang thực hiện đấu thầu mua thuốc tập trung trải qua 02 giai đoạn khác nhau: giai đoạn 2007 – 2013 Sở Y tế thực hiện đấu thầu cho các cơ sở khám, chữa bệnh tuyến huyện, Bệnh viện đa khoa tỉnh tự tổ chức đấu thầu cho Bệnh viện đa khoa. Giai đoạn 2013 đến nay thực hiện đấu thầu tập trung tại Sở Y tế. Các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh căn cứ kết quả đấu thầu của Sở Y tế thực 1 hiện việc ký kết hợp đồng với các nhà thầu và mua thuốc với mức giá thống nhất trong toàn tỉnh [3]. Phƣơng thức đấu thầu tập trung có nhiều ƣu điểm nhƣ: Áp dụng giá thuốc chung trong toàn tỉnh, hoạt động đấu thầu đƣợc chuyên nghiệp hóa, tạo điều kiện cho các đơn vị có thời gian thực hiện công tác chuyên môn… Bên cạnh đó, khi áp dụng phƣơng thức đấu thầu này và các quy định của các Thông tƣ về hƣớng dẫn đấu thầu thuốc tại các cơ sở KCB vẫn có những tồn tại, vƣớng mắc nhất định, điều đó làm giảm hiệu quả đấu thầu và gây khó khăn cho các cơ sở y tế trong việc mua thuốc phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh.

Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, Quỹ BHYT có nguy cơ mất cân đối, tình trạng gian lận trục lợi Quỹ BHYT đang là vấn đề “nóng”, vấn đề đƣợc đƣa ra thảo luận không ít đó là hiệu quả hoạt động, các kẽ hở trong hoạt động đấu thầu thuốc hiện nay, vấn đề liên quan trực tiếp đến giá thuốc trúng thầu. Vậy, hoạt động đấu thầu thuốc theo phƣơng thức đấu thầu tập trung tại Sở Y tế Kiên Giang năm 2017 diễn ra nhƣ thế nào? Việc triển khai các hƣớng dẫn quy định liên quan đến đấu thầu thuốc đã đạt đƣợc những kết quả gì? Danh mục thuốc trúng thầu tại SYT Kiên Giang nhƣ thế nào? Các nguyên nhân không trúng thầu của thuốc là gì? Giá thuốc có giảm hay không? Việc sử dụng thuốc trúng thầu đƣợc thực hiện ra sao? Để góp phần trả lời những câu hỏi trên, đề tài: “Phân tích kết quả đấu thầu thuốc tại Sở Y tế tỉnh Kiên Giang năm 2017” đƣợc thực hiện nhằm các mục tiêu sau: 1. Phân tích quy trình, kết quả trúng thầu thuốc tại Sở Y tế Kiên Giang năm 2017. So sánh cơ cấu thuốc sử dụng với cơ cấu thuốc trúng thầu tại Sở Y tế Kiên Giang năm 2017.

Từ đó đóng góp một số ý kiến giúp hoàn thiện hơn nữa hoạt động đấu thầu thuốc tại Sở Y tế Kiên Giang trong những năm tiếp theo. Tổng quan về hoạt động đấu thầu thuốc 1. Một số khái niệm Đấu thầu là một phƣơng thức vừa có tính khoa học vừa có tính pháp quy, khách quan mang lại hiệu quả cao, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh và hợp pháp trên thị trƣờng. Đó là một điều kiện thiết yếu để đảm bảo sự thành công cho chủ đầu tƣ thông qua tính tích cực, hiệu quả mang lại là hạ giá thành sản phẩm đồng thời đảm bảo về chất lƣợng và số lƣợng.

Theo Luật đấu thầu 43 định nghĩa: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng, dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế” [18]. Khác với luật đấu thầu số 61 [19], luật đấu thầu số 43 có mục riêng (Mục 3, Chƣơng 5) quy định về việc mua thuốc, vật tƣ y tế sử dụng nguồn vốn nhà nƣớc, nguồn quỹ BHYT và nguồn thu hợp pháp khác của các cơ sở y tế. Các hình thức lựa chọn nhà thầu Tùy vào quy mô gói thầu và tính cấp thiết của việc mua sắm mà chủ đầu tƣ có thể lựa chọn các hình thức lựa chọn nhà thầu theo Luật đấu thầu 43 và Nghị định 63 nhƣ là: Đấu thầu rộng rãi, Đấu thầu hạn chế, Chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh, Mua sắm trực tiếp, Tự thực hiện, lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tƣ trong trƣờng hợp đặc biệt, tham gia thực hiện của cộng đồng, Đàm phán giá (Áp dụng đối với mua thuốc trong trƣờng hợp đặc biệt). Trong đấu thầu mua thuốc theo quy định của Luật đấu thầu 43 chủ yếu áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu đƣợc trình bày tại bảng 1.

Các hình thức lựa chọn nhà thầu trong đấu thầu mua thuốc Hình thức lựa STT Phạm vi áp dụng chọn nhà thầu - Tất cả các cơ sở y tế thực hiện việc mua thuốc thanh Đấu thầu rộng 1 toán từ nguồn BHYT hoặc ngân sách nhà nƣớc. rãi - Không hạn chế số lƣợng nhà thầu, nhà đầu tƣ tham dự - Áp dụng trong trƣờng hợp đặc biệt: Mua thuốc triển khai phòng chống dịch bệnh trong trƣờng hợp cấp 2 Chỉ định thầu bách, thiên tai … - Gói thầu có giá trị không quá 01 tỷ đồng - Chào hàng cạnh tranh thông thƣờng có giá trị không quá 05 tỷ đồng. Chào hàng cạnh tranh rút gọn có giá trị từ 200 triệu đến 01 tỷ tùy gói thầu quy định cụ thể tại Chào hàng cạnh 3 Điều 23 Luật đấu thầu. tranh - Nội dung mua sắm là những hàng hoá thông dụng, sẵn có trên thị trƣờng với đặc tính kỹ thuật đƣợc tiêu chuẩn hoá và tƣơng đƣơng nhau về chất lƣợng.

- Gói thầu mua sắm hàng hóa tƣơng tự thuộc cùng một dự án hoặc thuộc dự án mua sắm khác. - Nhà thầu đã trúng thầu thông qua đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế và đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu trƣớc đó. Mua sắm trực 4 - Đơn giá: không đƣợc vƣợt đơn giá của các phần việc tiếp tƣơng ứng thuộc gói thầu tƣơng tự đã ký hợp đồng trƣớc đó. - Gói thầu có nội dung, tính chất tƣơng tự và quy mô nhỏ hơn 130% gói thầu trƣớc đó trong thời hạn không quá 12 tháng.

- Áp dụng cho gói thầu mua thuốc chỉ từ một đến hai nhà sản xuất, thuốc biệt dƣợc gốc, thuốc hiếm, thuốc 5 Đàm phán giá trong thời gian còn bản quyền và các trƣờng hợp đặc thù. Nhƣ vậy, theo quy định hiện nay việc đấu thầu mua thuốc cho các cơ sở y tế sẽ thực hiện hai hình thức: đấu thầu tập trung: cấp quốc gia, cấp địa phƣơng và đấu thầu riêng lẻ tại các cơ sở khám chữa bệnh. Đấu thầu tập trung - Hình thức đấu thầu tập trung là hình thức đấu thầu đƣợc Bộ Y tế khuyến khích, và đƣợc các tỉnh thành phố trên toàn quốc áp dụng rộng rãi, đến năm 2012 đã có khoảng 71,5% các tỉnh áp dụng hình thức này [21]. - Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở Y tế tổ chức đấu thầu tập trung những loại thuốc có nhu cầu sử dụng thƣờng xuyên, ổn định và có số lƣợng lớn cho tất cả các cơ sở y tế công lập thuộc địa phƣơng.

- Các cơ sở y tế công lập ở địa phƣơng căn cứ vào kết quả đấu thầu này để ký kết hợp đồng mua thuốc theo nhu cầu ngay trong năm. * Ưu điểm: - Thu hút nhiều nhà thầu tham gia nên có tính cạnh tranh cao và đồng thời có nhiều khả năng lựa chọn thuốc theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật quy định. - Huy động đƣợc đông đảo lực lƣợng cán bộ tham mƣu chuyên môn trong ngành tham gia công tác đấu thầu, tập trung đƣợc nhân lực có kinh nghiệm. - Nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả đấu thầu, giảm bớt thời gian và chi phí phục vụ cho công tác đấu thầu.

- Thuận lợi cho công tác quản lý, giám sát, thanh tra kiểm tra trong đấu thầu. Thủ tục đấu thầu công khai, quy trình minh bạch, đảm bảo đúng tiến độ, nhanh chóng đáp ứng kịp thời cung ứng thuốc đầy đủ, thƣờng xuyên cho cơ sở KCB. - Thống nhất về thời gian, chủng loại, giá thuốc trúng thầu đối với tất cả các cơ sở y tế trên địa bàn, góp phần bình ổn thị trƣờng giá trên địa bàn, quản lý nguồn quỹ KCB BHYT cũng đƣợc chặt chẽ, đảm bảo quyền lợi của bệnh nhân BHYT. * Hạn chế: - Luôn có một tỷ lệ danh mục thuốc trƣợt thầu nhất định, do đó khó khăn cho các đơn vị trong việc mua các thuốc đã trƣợt thầu.

- Việc quản lý các đơn vị mua theo số lƣợng trúng thầu tƣơng đối là khó khăn trong giai đoạn này, trong khi việc áp dụng công nghệ thông tin mới bƣớc đầu đƣợc thực hiện. 5 - Thói quen sử dụng thuốc ở các đơn vị khác nhau là không đồng đều, dẫn đến hiện tƣợng một số thuốc trúng thầu đƣợc sử dụng tại đơn vị này, song lại không đƣợc sử dụng ở đơn vị khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ