Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế học với đề tài "Phân tích kênh tín dụng ngân hàng trong cơ chế truyền dẫn tiền tệ ở Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình VECM" do nghiên cứu sinh Đỗ Khắc Hưởng thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, 2017), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Kim Dũng và PGS. Tô Trung Thành, thuộc chuyên ngành Kinh tế học (Mã số: 62.01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Cơ chế truyền dẫn tiền tệ là quá trình chính sách tiền tệ (CSTT) tạo ra sự thay đổi trong nền kinh tế thông qua các kênh khác nhau, được phân chia theo hai quan điểm chính: quan điểm tiền tệ truyền thống (kênh lãi suất, kênh tỉ giá) và quan điểm tín dụng (kênh tín dụng ngân hàng, kênh bảng tổng kết tài sản của doanh nghiệp, kênh giá tài sản và kênh kỳ vọng). Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đặt ra mức tăng trưởng tín dụng hàng năm để hướng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Trong giai đoạn 2001–2014, thực tiễn điều hành CSTT chứng kiến sự thay đổi liên tục giữa hai mục tiêu:
- Giai đoạn 2001–2005, mục tiêu tăng trưởng kinh tế được ưu tiên; dư nợ tín dụng năm 2005 tăng gần 3 lần so với năm 2001; năm 2007 dư nợ tăng gần 2 lần so với năm 2005.
- Tăng trưởng tín dụng cao kéo dài dẫn tới lạm phát bùng nổ, bắt đầu tăng trên hai con số từ tháng 11/2007 (10,1%), đạt đỉnh 28,2% vào tháng 8/2008 và kết thúc năm 2008 ở mức 19,89%. NHNN buộc phải thắt chặt tín dụng: khống chế dư nợ cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán không quá 20% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng (TCTD), giảm tỉ trọng dư nợ tín dụng phi sản xuất từ 15% xuống 13%, tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc (DTBB) và tăng lãi suất tái cấp vốn.
- Năm 2009, trước suy giảm kinh tế do khủng hoảng tài chính toàn cầu (tăng trưởng GDP năm 2008 chỉ đạt 6,18%), NHNN nới lỏng tiền tệ với tổng dư nợ hỗ trợ lãi suất đạt 385.824 tỉ đồng, đẩy tăng trưởng tín dụng năm 2009 lên 37,53%.
- Hệ quả nới lỏng khiến lạm phát tăng trở lại trên hai con số từ tháng 11/2010, đạt đỉnh 23,25% vào tháng 11/2011. NHNN ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN (01/3/2011) giới hạn trần tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ở mức 20%, khống chế tỉ trọng tín dụng phi sản xuất xuống 22% vào ngày 30/6/2011 và 16% vào ngày 31/12/2011; năm 2012 tiếp tục phân loại hạn mức tín dụng theo 4 nhóm ngân hàng. Đến năm 2014, lạm phát giảm về mức 1,84%.
Thực tiễn can thiệp trực tiếp và gián tiếp của NHNN đặt ra câu hỏi học thuật về việc kênh tín dụng ngân hàng có thực sự tồn tại độc lập và phát huy vai trò truyền dẫn tiền tệ hay không. Trong khi các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào kênh lãi suất, tỉ giá hoặc kênh giá tài sản thông qua mô hình VAR/SVAR, luận án lựa chọn khoảng trống: kiểm định sự tồn tại đồng thời của hai hàm cung và cầu tín dụng bằng mô hình vec-tơ hiệu chỉnh sai số (VECM) dựa trên khung lý thuyết Bernanke & Blinder (1988).
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định sự tồn tại của kênh tín dụng ngân hàng trong cơ chế truyền dẫn tiền tệ tại Việt Nam;
- Xác định vai trò và phạm vi tác động của chính sách tiền tệ đến cung, cầu tín dụng thông qua việc sử dụng các công cụ tiền tệ;
- Xác định mối quan hệ ngắn hạn, quan hệ dài hạn giữa các biến trong phương trình cung-cầu tín dụng;
- Xác định mối quan hệ giữa lạm phát và cung cầu tín dụng.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Liệu có tồn tại tối đa 2 phương trình cung cầu tín dụng phụ thuộc vào các biến: lãi suất cho vay, tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cho vay tái cấp vốn, chỉ số sản xuất công nghiệp và chỉ số giá tiêu dùng hay không?
- Mối quan hệ giữa các biến trong mô hình tồn tại trong dài hạn hay trong ngắn hạn hay cả hai?
- Công cụ tiền tệ nào đóng vai trò để kênh tín dụng tồn tại ở Việt Nam? Mối quan hệ giữa tín dụng và lạm phát được thể hiện như thế nào trong kết quả phương trình cung-cầu tín dụng?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Xác định sự tồn tại của kênh tín dụng ngân hàng trong cơ chế truyền dẫn tiền tệ tại Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam (dữ liệu tổng hợp toàn hệ thống).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu chuỗi thời gian theo tháng từ tháng 1/2001 đến tháng 12/2014 (168 quan sát).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
- Khung lý thuyết nền tảng: Bernanke & Blinder (1988, 1992) thiết lập mô hình cung - cầu tín dụng và chỉ ra rằng CSTT ảnh hưởng trực tiếp đến bảng cân đối tài sản và nguồn cung tín dụng của ngân hàng. Kashyap, Stein & Wilcox (1993) kiểm chứng kênh tín dụng thông qua việc so sánh tín dụng ngân hàng và thương phiếu; Kashyap & Stein (1995) phân tích sự khác biệt về phản ứng chính sách tiền tệ theo quy mô tài sản của các ngân hàng.
- Hướng tiếp cận mô hình VECM:
- De Mello & Pisu (2010) sử dụng mô hình VECM để ước lượng đồng thời hàm cung và hàm cầu tín dụng tại Brazil, khẳng định sự tồn tại của kênh tín dụng ngân hàng.
- Sun và cộng sự (2010) kế thừa khung mô hình của De Mello & Pisu (2010) áp dụng cho Trung Quốc, chỉ ra lãi suất cho vay và tỉ lệ DTBB có tương quan nghịch với tín dụng; lạm phát có tương quan thuận có ý nghĩa thống kê với cung tín dụng.
- Cyrille (2014) áp dụng mô hình VECM cho các nước thuộc cộng đồng CEMAC (Cameroon, Trung Phi, Chad, Congo, Gabon) và xác nhận kênh tín dụng ngân hàng tồn tại.
- Yarasevika và cộng sự (2015) dùng VECM phân tích phía cầu tín dụng tại Indonesia.
- Hướng tiếp cận mô hình ARDL và kết hợp:
- Tang (2001) dùng mô hình phân phối độ trễ tự hồi quy (ARDL/Unrestricted ECM) kiểm định đường bao (bound testing) phân tích lạm phát tại Malaysia.
- Eslamloueyan & Darvishi (2007) áp dụng mô hình ARDL tại Iran, chỉ ra tín dụng ngân hàng, GDP, tỉ giá và giá nhập khẩu tác động cùng chiều đến lạm phát.
- Ziramba (2008) phân tích tác động của tín dụng đến lạm phát nhưng nhận thấy trong ngắn hạn quan hệ giữa tín dụng và lạm phát mang dấu âm.
- Kassim & Majid (2008) kết hợp cả ARDL và VECM tại Malaysia, kết luận cú sốc tiền tệ trong dài hạn truyền dẫn qua tiền gửi ngân hàng hơn là qua tín dụng ngân hàng.
- Hsing (2013) sử dụng phương pháp hồi quy 3SLS tại Ba Lan.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
- Nhóm nghiên cứu sử dụng mô hình VAR: Chu Khánh Lân (2013) chỉ ra phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng được khuếch đại nhanh và mạnh hơn khi có kênh tín dụng; Phạm Thị Hoàng Anh và Lê Hà Thu (2014) phân rã phương sai cho thấy các cú sốc tín dụng tác động tới lạm phát; Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2014) chỉ ra kênh lãi suất hoạt động đúng lý thuyết trước khủng hoảng nhưng kém hiệu quả trong giai đoạn khủng hoảng.
- Nhóm nghiên cứu sử dụng mô hình SVAR: Cao Thị Ý Nhi và Lê Thu Giang (2015) kết luận mối quan hệ giữa tổng tín dụng và CPI là thuận chiều và chặt chẽ; Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn (2013) phát hiện phản ứng có độ trễ của lạm phát trước lãi suất; Nguyễn Thị Liên Hoa và Trần Đặng Dũng (2013) nhận định lạm phát chịu tác động bởi chi phí đẩy và cung tiền M2 (với độ trễ 6 tháng).
- Nhóm nghiên cứu sử dụng mô hình VECM: Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2011) chỉ ra quan hệ giữa tín dụng và CPI không có ý nghĩa thống kê nhưng có ý nghĩa với chỉ số giá sản xuất; Phạm Thế Anh (2009) chỉ ra cung tiền tác động mạnh đến lạm phát từ quý thứ ba trở đi.
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả & Năm công bố |
Mô hình |
Kết luận chính |
| Quốc tế (VECM) |
De Mello & Pisu (2010); Sun và cs (2010); Cyrille (2014) |
VECM |
Xác định đồng thời 2 phương trình cung - cầu tín dụng; khẳng định sự tồn tại kênh tín dụng tại Brazil, Trung Quốc, CEMAC. |
| Quốc tế (ARDL/3SLS) |
Tang (2001); Eslamloueyan & Darvishi (2007); Hsing (2013) |
ARDL, 3SLS |
Đo lường tác động dài hạn của tín dụng tới lạm phát và sản lượng; tồn tại hạn chế về kiểm định quan hệ nhân quả hai chiều. |
| Việt Nam (VAR/SVAR) |
Chu Khánh Lân (2013); Cao Thị Ý Nhi & Lê Thu Giang (2015) |
VAR, SVAR |
Tín dụng tác động thuận chiều tới CPI; tuy nhiên chỉ xem tín dụng là biến vĩ mô đơn lẻ, chưa phân tách cung - cầu. |
| Việt Nam (VECM) |
Nguyễn Thị Thu Hằng & Nguyễn Đức Thành (2011) |
VECM |
Tín dụng không có ý nghĩa thống kê với CPI nhưng có ý nghĩa với chỉ số giá bán của người sản xuất. |
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn
Các công trình tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận theo mô hình VAR/SVAR, chỉ nhìn nhận tín dụng như một biến kinh tế vĩ mô thông thường mà chưa phản ánh được cơ chế truyền dẫn qua trung gian tài chính. Luận án khắc phục hạn chế này bằng cách áp dụng phương pháp VECM theo khung De Mello & Pisu (2010) để phân tách và ước lượng đồng thời hệ phương trình cung - cầu tín dụng, kiểm định các điều kiện toán học và kinh tế lượng về sự tồn tại của kênh tín dụng ngân hàng tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết
Luận án vận dụng mô hình kênh tín dụng ngân hàng của Bernanke & Blinder (1988), phát triển từ mô hình IS-LM với 3 giả định:
- Giá cả không điều chỉnh tức thì (tiền tệ không trung tính trong ngắn hạn);
- Nghiệp vụ thị trường mở làm thay đổi dự trữ và cung tín dụng của các TCTD;
- Tín dụng ngân hàng và trái phiếu không phải là tài sản thay thế hoàn hảo đối với người đi vay.
Từ cân bằng bảng cân đối kế toán ngân hàng $D = R + B + L^s$ (trong đó $D$ là tiền gửi, $R$ là dự trữ gồm bắt buộc và dư thừa, $B$ là trái phiếu, $L^s$ là cung tín dụng) và tỉ lệ dự trữ bắt buộc $\tau$, các hàm cung và cầu tín dụng được xác lập:
- Hàm cầu tín dụng: $L^d = L^d(i, \rho, y)$ (với $i$ là lãi suất trái phiếu, $\rho$ là lãi suất cho vay, $y$ là sản lượng);
- Hàm cung tín dụng: $L^s = L^s(\rho, i, D(1-\tau))$;
- Đường cong hàng hóa - tín dụng (CC) kết hợp cùng đường LM mô tả trạng thái cân bằng đồng thời trên thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ và thị trường tín dụng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp thống kê mô tả và so sánh đối chứng: Phân tích dữ liệu lịch sử giai đoạn 2001–2014, đối chiếu các mốc biến động lạm phát, tăng trưởng kinh tế với các quyết định điều hành của NHNN.
- Phương pháp phân tích kinh tế lượng VECM:
- Kiểm định nghiệm đơn vị (Unit Root Test) để kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu gốc và sai phân bậc 1;
- Xác định độ trễ tối ưu (Optimal Lag Selection) qua các tiêu chuẩn AIC, SC, HQ;
- Kiểm định đồng tích hợp Johansen (Johansen Cointegration Test) nhằm xác định số lượng vec-tơ đồng tích hợp (yêu cầu tồn tại 2 vec-tơ để đại diện cho hàm cung và hàm cầu tín dụng);
- Kiểm định loại bỏ biến trong dài hạn và kiểm định biến ngoại sinh;
- Ước lượng hệ phương trình VECM, kiểm định chuẩn đoán mô hình (tự tương quan, phân phối chuẩn, phương sai thay đổi);
- Phân tích hàm phản ứng xung (Impulse Response Functions - IRF) và phân rã phương sai (Variance Decomposition).
Dữ liệu và nguồn dữ liệu
Dữ liệu nghiên cứu gồm 168 quan sát theo tháng (01/2001 – 12/2014), trích xuất từ Tổng cục Thống kê (TCTK), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Thống kê Tài chính Quốc tế của IMF (IFS-IMF).
| Ký hiệu biến |
Tên biến |
Đại diện trong mô hình |
Nguồn dữ liệu |
| CREDIT |
Dư nợ tín dụng |
Tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng cấp cho nền kinh tế |
NHNN, IFS-IMF |
| LENDING |
Lãi suất cho vay |
Lãi suất cho vay VND của các NHTM Nhà nước/cổ phần Nhà nước chi phối |
NHNN |
| RR |
Tỉ lệ dự trữ bắt buộc |
Tỉ lệ dự trữ bắt buộc bằng VND đối với tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng |
NHNN |
| REFI |
Lãi suất tái cấp vốn |
Lãi suất cho vay tái cấp vốn của NHNN |
NHNN |
| IIP |
Sản lượng |
Chỉ số sản xuất công nghiệp |
TCTK |
| CPI |
Lạm phát / Mức giá |
Chỉ số giá tiêu dùng |
TCTK |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan lý thuyết và thực nghiệm về cơ chế truyền dẫn tiền tệ thông qua kênh tín dụng ngân hàng
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về 4 kênh truyền dẫn tiền tệ chính (kênh lãi suất, kênh tỉ giá, kênh giá tài sản và kênh tín dụng ngân hàng) theo phân loại của Mishkin (1995, 1996) và Taylor (1995). Trọng tâm chương trình bày mô hình toán của Bernanke & Blinder (1988), chứng minh cơ chế mà thông qua đó việc điều chỉnh tỉ lệ dự trữ bắt buộc hoặc lãi suất chiết khấu/tái cấp vốn làm dịch chuyển nguồn vốn khả dụng của ngân hàng, tác động trực tiếp lên cung tín dụng, từ đó làm thay đổi sản lượng và mức giá.
Chương 1 cũng tổng thuật các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế (sử dụng 3SLS, ARDL, VECM) và các nghiên cứu tại Việt Nam (sử dụng VAR, SVAR, VECM). Tác giả chỉ ra rằng việc áp dụng VECM để kiểm định đồng thời hàm cung và hàm cầu tín dụng là phương pháp phù hợp nhất để khắc phục hiện tượng nội sinh và kiểm định sự tồn tại thực sự của kênh tín dụng tại Việt Nam.
Chương 2: Thực thi chính sách tiền tệ tại Việt Nam thông qua kênh tín dụng ngân hàng
Chương 2 phân tích diễn biến thực thi CSTT tại Việt Nam giai đoạn 2000–2014 thông qua các công cụ và mục tiêu:
- Mục tiêu điều hành: Phân tích sự hoán đổi thứ tự ưu tiên giữa mục tiêu kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế qua các giai đoạn (2001–2007 nới lỏng tăng trưởng; 2008 thắt chặt chống lạm phát 19,89%; 2009 mở rộng kích cầu; 2011 thắt chặt theo Nghị quyết 11/NQ-CP khi lạm phát vượt 23%).
- Mục tiêu trung gian: Theo dõi diễn biến mục tiêu và thực tế của tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán (M2). Trong nhiều năm (như giai đoạn 2004–2007 và 2009), mức tăng trưởng tín dụng thực tế vượt xa chỉ tiêu đề ra hàng năm.
- Các công cụ chính sách:
- Dự trữ bắt buộc (DTBB): Tỉ lệ DTBB tiền gửi VND kỳ hạn dưới 12 tháng giảm xuống mức đáy 2% (8/2003–6/2004), tăng lên 5% (7/2004), 10% (5/2007), 11% (2/2008), sau đó giảm nhanh về 6% (12/2008), 2% (1/2009), 1% (3/2009–12/2009) và duy trì ở mức 3% từ tháng 1/2010.
- Hạn mức tín dụng (HMTD): Tái áp dụng từ năm 2011 theo Chỉ thị 01/CT-NHNN (giới hạn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống tối đa 20%, khống chế tỉ trọng phi sản xuất xuống 16% vào cuối năm 2011); năm 2012 phân loại 4 nhóm hạn mức (Nhóm 1: tối đa 17%; Nhóm 2: 15%; Nhóm 3: 8%; Nhóm 4: 0%).
- Lãi suất tái cấp vốn và chiết khấu: Tăng mạnh trong các năm 2008 và 2011 để hạ nhiệt tín dụng nóng, duy trì thấp trong các giai đoạn hỗ trợ thanh khoản.
- Trần lãi suất tiền gửi: Áp dụng trần 14%/năm theo Chỉ thị 02/CT-NHNN ngày 7/9/2011 để giảm chi phí đầu vào của các TCTD.
- Chính sách tỉ giá: Chuyển đổi cơ chế từ tháng 2/1999 sang công bố tỉ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng; các đợt điều chỉnh biên độ và tỉ giá (đặc biệt đợt tăng 9,2% và thu hẹp biên độ xuống ±1% vào tháng 2/2011; cam kết biến động không quá 2%/năm giai đoạn 2012–2014).
Chương 3: Phân tích định lượng xác định sự tồn tại kênh tín dụng ngân hàng trong cơ chế truyền dẫn tiền tệ tại Việt Nam
Chương 3 thực hiện quy trình ước lượng kinh tế lượng đối với bộ dữ liệu 168 tháng (01/2001–12/2014):
- Thống kê mô tả và kiểm định nghiệm đơn vị: Bảng 3.1 và Bảng 3.3 xác định các chuỗi dữ liệu gốc (CREDIT, LENDING, RR, REFI, IIP, CPI) đều không dừng ở mức giá trị gốc nhưng dừng ở sai phân bậc 1, tức là tích hợp bậc 1, $I(1)$.
- Kiểm định bước trễ tối ưu và đồng tích hợp Johansen: Bảng 3.4 và Bảng 3.5 chỉ ra độ trễ tối ưu của mô hình và xác định sự tồn tại của đúng 2 vec-tơ đồng tích hợp ở mức ý nghĩa 5%, thỏa mãn điều kiện cần để thiết lập hai phương trình đại diện cho hàm cung và hàm cầu tín dụng dài hạn.
- Ước lượng mối quan hệ dài hạn: Bảng 3.6, Bảng 3.7 và Bảng 3.8 trình bày kết quả kiểm định loại bỏ biến và kiểm định ngoại sinh. Hai phương trình cung - cầu tín dụng dài hạn được xác lập:
- Hàm cung tín dụng: Cung tín dụng phụ thuộc đồng biến với lãi suất cho vay, nghịch biến với tỉ lệ dự trữ bắt buộc và lãi suất tái cấp vốn; có tương quan cùng chiều với lạm phát (CPI).
- Hàm cầu tín dụng: Cầu tín dụng có mối quan hệ nghịch biến với lãi suất cho vay, đồng biến với quy mô sản xuất công nghiệp (IIP).
- Ước lượng động trong ngắn hạn (Phương trình hiệu chỉnh sai số): Bảng 3.10 thể hiện các hệ số hiệu chỉnh sai số ($ECM_{t-1}$) mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê, khẳng định cơ chế điều chỉnh về trạng thái cân bằng dài hạn sau các cú sốc ngắn hạn. Bảng 3.11 kiểm định chuẩn đoán khẳng định mô hình không bị hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi.
- Hàm phản ứng xung và phân rã phương sai: Bảng 3.12 và Bảng 3.13 cho thấy khi có cú sốc thắt chặt CSTT (tăng DTBB hoặc tăng lãi suất tái cấp vốn), cung tín dụng phản ứng giảm, kéo theo sự sụt giảm của IIP và CPI theo các độ trễ nhất định.
Chương 4: Kết luận và gợi ý giải pháp
Chương 4 đúc kết các phát hiện định lượng: khẳng định kênh tín dụng ngân hàng thực sự tồn tại trong cơ chế truyền dẫn tiền tệ tại Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra các gợi ý chính sách:
- NHNN không nên thực hiện thắt chặt tín dụng đột ngột để kiểm soát lạm phát, vì sự phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng sẽ khiến sản lượng (IIP) bị tổn thương nghiêm trọng do xáo trộn phân bổ nguồn lực;
- Chuyển đổi dần cơ chế điều hành từ các công cụ hành chính trực tiếp (hạn mức tín dụng) sang công cụ gián tiếp thị trường thông qua điều hành lãi suất chính sách tác động đến lãi suất thị trường, từ đó điều tiết cung tín dụng hiệu quả và bền vững;
- Phối hợp đồng bộ giữa công cụ tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái cấp vốn và kiểm soát chất lượng tín dụng theo ngành/lĩnh vực.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm: Luận án là công trình nghiên cứu áp dụng mô hình VECM để phân tách và ước lượng đồng thời hệ phương trình cung và cầu tín dụng tại Việt Nam theo khung lý thuyết Bernanke & Blinder (1988), chứng minh kênh tín dụng ngân hàng có tồn tại thực sự trong cơ chế truyền dẫn tiền tệ.
- Xác lập mối quan hệ định lượng dài hạn và ngắn hạn: Mô hình chỉ ra các mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa tín dụng với lãi suất cho vay, tỉ lệ DTBB, lãi suất tái cấp vốn, sản lượng công nghiệp và CPI; đồng thời chứng minh hệ số hiệu chỉnh sai số ($ECM$) có ý nghĩa thống kê, phản ánh tốc độ tự điều chỉnh về trạng thái cân bằng khi nền kinh tế xuất hiện cú sốc tiền tệ.
- Làm rõ vai trò công cụ chính sách: Kết quả cho thấy lãi suất thị trường và tỉ lệ dự trữ bắt buộc có tác động trực tiếp đến hàm cung tín dụng, qua đó gián tiếp tác động đến lạm phát và sản lượng.
Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp
- Nguyên tắc điều hành tín dụng: Luận án khuyến nghị NHNN tránh việc đột ngột siết chặt tín dụng bằng các biện pháp hành chính cực đoan khi lạm phát gia tăng, bởi vì cầu tín dụng gắn liền mật thiết với tăng trưởng sản xuất (IIP); việc cắt giảm tín dụng đột ngột gây tổn hại trực tiếp đến năng lực sản xuất của nền kinh tế.
- Định hướng công cụ điều hành: Khuyến nghị chuyển dịch trọng tâm sang điều hành lãi suất thị trường để kiểm soát cung tín dụng; duy trì việc phân loại, kiểm soát hạn mức tín dụng theo hướng hướng dòng vốn vào khu vực sản xuất và kiểm soát chặt chẽ khu vực phi sản xuất (bất động sản, chứng khoán).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Thiếu biến quy mô vốn ngân hàng: Do không thu thập được chuỗi số liệu đầy đủ theo tháng về quy mô vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống ngân hàng giai đoạn 2001–2014, luận án chưa đưa biến quy mô vốn vào hàm cung tín dụng như một số nghiên cứu quốc tế.
- Giới hạn dữ liệu ở cấp độ vĩ mô: Do khó khăn trong việc thu thập chuỗi dữ liệu vi mô theo tháng tại từng ngân hàng thương mại, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xác định kênh tín dụng ở cấp độ tổng hợp toàn hệ thống, chưa phân tích được mức độ phản ứng khác nhau giữa các nhóm ngân hàng theo quy mô tài sản hay thanh khoản.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng mô hình nghiên cứu ở cấp độ dữ liệu vi mô từng ngân hàng thương mại (sử dụng dữ liệu bảng - panel data) để đánh giá sự phân hóa phản ứng trước CSTT giữa nhóm ngân hàng lớn và nhóm ngân hàng nhỏ;
- Bổ sung biến quy mô vốn chủ sở hữu và các sản phẩm thay thế tín dụng (như trái phiếu doanh nghiệp, thị trường cổ phiếu) vào mô hình định lượng khi các chuỗi số liệu này được hoàn thiện theo thời gian.
Giá trị tham khảo
- Đối với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý vĩ mô: Cung cấp cơ sở định lượng để đánh giá độ trễ và phạm vi tác động của công cụ DTBB, lãi suất tái cấp vốn và hạn mức tín dụng tới cung - cầu vốn, hỗ trợ xây dựng lộ trình điều hành CSTT tránh gây sốc cho khu vực sản xuất.
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Kinh tế học, Tài chính - Ngân hàng: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về việc áp dụng mô hình VECM ước lượng hệ phương trình đồng tích hợp cung - cầu tín dụng dựa trên lý thuyết Bernanke & Blinder (1988); tham khảo quy trình kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định Johansen và chuẩn đoán mô hình chuỗi thời gian.
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo: Làm tài liệu tham khảo chuyên khảo trong các học phần Kinh tế vĩ mô nâng cao, Chính sách tiền tệ và Kinh tế lượng ứng dụng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng mô hình kinh tế lượng nào và tại sao không sử dụng mô hình VAR hay SVAR truyền thống?
Luận án sử dụng mô hình vec-tơ hiệu chỉnh sai số (VECM). Tác giả không sử dụng mô hình VAR hay SVAR truyền thống vì các chuỗi dữ liệu tài chính - tiền tệ tại Việt Nam thường có nghiệm đơn vị (không dừng ở chuỗi dữ liệu gốc). Mô hình VECM cho phép ước lượng đồng thời 2 vec-tơ đồng tích hợp (hàm cung và hàm cầu tín dụng), phản ánh được cả mối quan hệ cân bằng dài hạn và cơ chế điều chỉnh động ngắn hạn, tránh hiện tượng hồi quy giả tạo và hiện tượng nội sinh.
2. Bộ dữ liệu nghiên cứu của luận án gồm những biến số nào và có độ dài thời gian bao lâu?
Nghiên cứu sử dụng 6 chuỗi dữ liệu theo tháng trong khoảng thời gian từ tháng 1/2001 đến tháng 12/2014 (168 quan sát), bao gồm:
- Dư nợ tín dụng ngân hàng (CREDIT);
- Lãi suất cho vay VND của các NHTM Nhà nước/cổ phần Nhà nước chi phối (LENDING);
- Tỉ lệ dự trữ bắt buộc bằng VND kỳ hạn dưới 12 tháng (RR);
- Lãi suất cho vay tái cấp vốn (REFI);
- Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP);
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
3. Điều kiện cần và đủ để luận án kết luận kênh tín dụng ngân hàng tồn tại ở Việt Nam là gì?
Dựa trên phương pháp của De Mello & Pisu (2010), điều kiện cần là kiểm định Johansen phải xác định được đúng 2 vec-tơ đồng tích hợp từ hệ thống 6 biến số. Điều kiện đủ là các hệ số ước lượng trong hai vec-tơ này phải phù hợp với lý thuyết kinh tế: hàm cung tín dụng phụ thuộc thuận chiều vào lãi suất cho vay, ngược chiều với tỉ lệ DTBB và lãi suất tái cấp vốn; hàm cầu tín dụng phụ thuộc ngược chiều vào lãi suất cho vay và thuận chiều với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP). Kết quả ước lượng thực tế trong Chương 3 đã thỏa mãn các điều kiện này.
4. Tại sao luận án khuyến nghị NHNN không nên thắt chặt tín dụng đột ngột để kiềm chế lạm phát?
Theo kết quả ước lượng hàm cầu tín dụng và phân rã phương sai, nhu cầu tín dụng có mối liên kết rất chặt chẽ với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP). Nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc lớn vào vốn tín dụng ngân hàng do thị trường vốn chưa phát triển toàn diện. Do đó, việc đột ngột cắt giảm hay thắt chặt tín dụng bằng các biện pháp hành chính mạnh sẽ trực tiếp làm suy giảm sản lượng công nghiệp và làm tổn hại hoạt động sản xuất kinh doanh trước khi tác động làm giảm lạm phát.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đỗ Khắc Hưởng đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn tiền tệ tại Việt Nam thông qua việc kiểm định sự tồn tại của kênh tín dụng ngân hàng bằng mô hình VECM trên chuỗi số liệu tháng giai đoạn 2001–2014. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự tồn tại đồng thời của hai phương trình cung và cầu tín dụng trong dài hạn, cũng như vai trò của các công cụ chính sách (tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất thị trường) trong ngắn hạn và dài hạn. Luận án cung cấp cơ sở khoa học cho việc điều hành chính sách tiền tệ theo hướng thị trường, cảnh báo rủi ro suy giảm sản lượng khi thắt chặt tín dụng đột ngột và gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo ở cấp độ dữ liệu vi mô từng ngân hàng thương mại.