CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT. Một số vấn đề chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Khái niệm và phân loại chi phí. “Chi phí được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau.
Chi phí có thể hiểu một cách trừu tượng là biểu hiện bằng tiền những hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD); hoặc chi phí là những phí tổn về nguồn lực kinh tế, về tài sản cụ thể sử dụng trong hoạt động SXKD. Nhận thức chi phí có thể khác nhau về quan điểm, góc độ, hình thức thể hiện chi phí nhưng tất cả đều thừa nhận một vấn đề chung: chi phí là phí tổn tài nguyên, vật chất, lao động và phát sinh gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh” (Huỳnh Lợi, “Kế toán chi phí”, 2009) 1. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh. Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất bao gồm rất nhiều loại với những nội dung, tính chất kinh tế cũng như mục đích, công dụng khác nhau.
Vì vậy, phụ thuộc vào mục đích hoạt động, cách thức quản lý mà nhà quản trị lựa chọn tiêu thức để phân loại chi phí phù hợp, đạt mục tiêu quản lý chi phí trong doanh nghiệp. Sau đây là một số cách phân loại: Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu: Theo tiêu thức này, chi phí trong kế toán của doanh nghiệp tồn tại dưới các yếu tố sau: - Chi phí nguyên vật liệu: giá mua và chi phí mua của nguyên vật liệu (NVL) dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc thi công công trình. Yếu tố này bao gồm các chi phí NVL chính, NVL phụ, chi phí nhiên liệu, chi phí phụ tùng thay thế, chi phí vật liệu khác. SVTH: Lê Thị Thu Hiền – K48C Kế toán 5 Khóa luận tốt nghiệp - Chi phí nhân công: gồm các khoản tiền lương chính, phụ; phụ cấp theo lương phải trả cho người lao động và các khoản trích theo lương như kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động.
- Chi phí công cụ dụng cụ: gồm giá mua và chi phí mua của các công cụ dụng cụ vào hoạt động SXKD hoặc thi công công trình. - Chi phí khấu hao tài sản cố định: gồm khấu hao của tất cả tài sản cố định, tài sản dài hạn dùng vào hoạt động SXKD hoặc thi công công trình. - Chi phí dịch vụ thuê ngoài: gồm giá dịch vụ mua từ bên ngoài cung cấp cho hoạt động SXKD như giá dịch vụ điện nước, phí bảo hiểm tài sản, giá thuê nhà cửa phương tiện. - Chi phí khác bằng tiền: gồm tất cả các chi phí SXKD bằng tiền tại doanh nghiệp.
Với cách phân loại này, những chi phí có tính chất, nội dung kinh tế giống nhau được xếp vào một yếu tố chi phí giúp nhà quản lý biết được kết cấu tỷ trọng từng loại chi phí trong tổng chi phí, qua đó đánh giá được tình hình thực hiện dự toán chi phí. Cách phân loại này còn là cơ sở để doanh nghiệp lập Bảng thuyết minh BCTC, phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí và lập dự toán chi phí sản xuất thi công cho kỳ sau. Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế. Theo tiêu thức này, chi phí trong kỳ kế toán của doanh nghiệp gồm các khoản mục sau: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: gồm toàn bộ chi phí NVL sử dụng trực tiếp trong từng hoạt động sản xuất ra sản phẩm hoặc hạng mục công trình.
Chi phí NVL trực tiếp thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí nhưng dễ nhận diện, định lượng chính xác, kịp thời khi phát sinh. - Chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương và các khoản trích theo lương tính vào chi phí sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của công nhân trực tiếp thực hiện từng hoạt động sản xuất sản phẩm. - Chi phí sử dụng máy thi công (trong hoạt động xây lắp, thi công xây dựng công trình): gồm chi phí trực tiếp liên quan đến việc sử dụng máy thi công để thực hiện công tác xây dựng và lắp đặt các công trình, hạng mục công trình bao gồm: tiền lương công nhân điều khiển máy, nhiên liệu, khấu hao máy thi công,… SVTH: Lê Thị Thu Hiền – K48C Kế toán 6 Khóa luận tốt nghiệp - Chi phí sản xuất chung: gồm tất cả các chi phí sản xuất ngoài hai khoản mục chi phí trên. Chi phí sản xuất chung bao gồm: chi phí lao động gián tiếp, chi phí phục vụ, chi phí tổ chức quản lý sản xuất tại phân xưởng, tại công trình thi công; chi phí công cụ dụng cụ (CCDC) dùng trong sản xuất; chi phí khấu hao máy móc thiết bị, tài sản cố định (TSCĐ) khác dùng trong hoạt động sản xuất; chi phí dịch vụ thuê ngoài phục vụ sản xuất như điện, nước, sửa chữa, bảo hiểm tài sản tại xưởng sản xuất.
- Chi phí bán hàng (chi phí lưu thông): là những chi phí đảm bảo cho việc thực hiện chính sách, chiến lược bán hàng của doanh nghiệp. - Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm tất cả chi phí liên quan đến công việc hành chính, quản trị ở phạm vi toàn doanh nghiệp. Cách phân loại này được áp dụng ở hầu hết các doanh nghiệp kể cả sản xuất sản phẩm và thi công công trình. Với cách phân loại này sẽ giúp nhà quản trị quản lý định mức chi phí, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm và kế hoạch giá thành cho kỳ sau.
Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ tính kết quả. Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí với kỳ tính kết quả, chi phí trong kỳ kế toán chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ. - Chi phí sản phẩm: là những chi phí gắn liền với sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua vào trong kỳ. Đối với hoạt động sản xuất, chi phí sản phẩm là chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung trong hoạt động sản xuất.
Chi phí sản phẩm phát sinh trong một kỳ và ảnh hưởng đến nhiều kỳ SXKD, kỳ tính kết quả kinh doanh. - Chi phí thời kỳ: là những chi phí phát sinh và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong một kỳ kế toán. Chi phí thời kỳ là những chi phí được khấu trừ vào kỳ tính lợi nhuận, chúng không phải là một phần của giá trị sản phẩm sản xuất hoặc hàng hóa mua vào. Ví dụ: chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí quảng cáo, chi phí thuê nhà,… Ở những doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản phẩm phát sinh dưới hình thức chi phí sản xuất.
Sau đó, chúng chuyển hóa thành giá trị thành phẩm tồn kho, giá trị thành phẩm chờ bán. Khi tiêu thụ, chúng chuyển hóa thành giá vốn hàng bán được ghi nhận trên Báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD) trong kỳ. Ngược lại, chi phí thời kỳ chúng phát sinh cũng chính là thời kỳ được ghi nhận trên BCKQKD. SVTH: Lê Thị Thu Hiền – K48C Kế toán 7 Khóa luận tốt nghiệp Ngoài ra còn có một số cách phân loại khác về chi phí.
- Phân loại chi phí theo phương pháp quy nạp bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. - Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động bao gồm định phí, biến phí và chi phí hỗn hợp. - Căn cứ vào khả năng kiểm soát chi phí, chi phí được phân thành chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được. Khái niệm và phân loại giá thành.
“Giá thành sản phẩm là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành nhất định.” (Huỳnh Lợi, “Kế toán chi phí”, 2009) Giá thành sản phẩm là một thước đo giá trị và cũng là một đòn bẩy kinh tế. Giá thành sản phẩm thường mang tính khách quan và chủ quan, đồng thời nó là một đại lượng cá biệt, mang tính giới hạn và là một chỉ tiêu, biện pháp quản lý chi phí. Tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của mỗi ngành sản xuất, kết cấu giá thành sản phẩm bao gồm những khoản mục chi phí khác nhau. Cụ thể: - Đối với ngành sản xuất công nghiệp, giá thành sản phẩm bao gồm các khoản mục chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
- Đối với ngành xây lắp, giá thành sản phẩm bao gồm các khoản mục chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung. Phân loại giá thành. Có nhiều loại giá thành khác nhau, tuỳ theo lĩnh vực hoạt động, yêu cầu quản lý cũng như các tiêu thức phân loại khác nhau mà giá thành được chia thành các loại tương ứng. Trong doanh nghiệp, giá thành sản phẩm thường được chia thành: Giá thành định mức: giá thành được xây dựng trên tiêu chuẩn của chi phí định mức, là cơ sở để xây dựng giá thành kế hoạch, giá thành dự toán, chi phí tiêu chuẩn.
Giá thành kế hoạch (dự toán): giá thành được xây dựng trên cơ sở giá thành định mức nhưng có điều chỉnh theo năng lực hoạt động trong kỳ kế hoạch. SVTH: Lê Thị Thu Hiền – K48C Kế toán 8 Khóa luận tốt nghiệp Giá thành thực tế: giá thành được tính toán dựa trên chi phí thực tế phát sinh. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành. Chi phí sản xuất (CPSX) và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá trình sản xuất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành được biểu hiện như sau: - Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thường có bản chất kinh tế là hao phí lao động sống và lao động vật hóa hay phí tổn nguồn lực kinh tế khai thác trong hoạt động sản xuất nhưng khác nhau về thời kỳ, phạm vi, giới hạn. Chi phí sản xuất luôn gắn liền với từng thời kỳ nhất định đã phát sinh chi phí còn giá thành sản phẩm lại gắn liền với khối lượng sản phẩm, dịch vụ, công việc đã sản xuất hoàn thành. - Chi phí sản xuất không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm đang còn dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng.