Chương 1: Tổng quan về huy động tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng huy động tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân tại N gân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội – Chi nhánh Huế Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân. Phần III: Kết luận và kiến nghị SVTH: Trần Thị C7m Tuyền 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Diệu Thúy PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: TỔ G QUA VỀ HOẠT ĐỘ G HUY ĐỘ G TIỀ GỬI KHÁCH HÀ G CÁ HÂ TẠI GÂ HÀ G THƯƠ G MẠI 1.
Tổng quan về gân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại: Ở Việt N am trong Pháp lệnh N gân hàng, HTX tín dụng và Công ty tài chính năm 1990 có đưa ra khái niệm: “N gân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Theo Luật các tổ chức tín dụng (Luật số 02/1997/QH10) - Điều 20: “N gân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Trong đó “hoạt động N gân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ N gân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
“Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”. Theo nghị định 59/2009/N Đ-CP về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại: gân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. gân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại N gân hàng thương mại hoạt động và phát triển được chủ yếu nhờ vào lượng tiền mà nó huy động được từ nền kinh tế.
Chính vì vậy, hoạt động huy động vốn là hoạt động quan trọng nhất. Với nguồn vốn tự có trong ngân hàng thì không thể đáp ứng tất cả các hoạt động của ngân hàng. Do đó, ngân hàng phải huy động và tập hợp các nguồn SVTH: Trần Thị C7m Tuyền 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Diệu Thúy vốn nhàn rỗi bên ngoài để mở rộng nguồn vốn kinh doanh của mình nhằm thực hiện các nghiệp vụ khác của ngân hàng.
N ghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng sẽ tạo uy tín của ngân hàng càng cao, các ngân hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh. N HTM huy động vốn dưới các hình thức sau: ❖ Tiền gửi: tiền gửi của khách hàng là tài nguyên quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. - Tiền gửi thanh toán - Tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp - Tiền gửi tiết kiệm của các tầng lớp dân cư - Tiền gửi của các ngân hàng khác ❖ guồn đi vay - Vay từ N HN N - Vay từ các tổ chức tín dụng và N HTM khác - Vay trên thị trường vốn - N guồn uỷ thác ❖ Một số hình thức huy động vốn khác theo quy định của H : như phát hành các loại giấy tờ có giá trị.Tổng quan về hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại.Khái niệm hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm: N gười gửi tiền là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. N gười gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm.
Theo Điều 6 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm số 1160/2004/QĐ-N HN N , tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. N hìn chung SVTH: Trần Thị C7m Tuyền 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Hoàng Thị Diệu Thúy tiền gửi tiết kiệm cũng là một dạng tiền gửi ngân hàng. Khách hàng có rất nhiều lý do và nhu cầu khác nhau khi gửi tiền vào ngân hàng.
Trong đó, nếu xét về mục đích thì tiền gửi ngân hàng chia ra làm hai dạng đó là tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm. Đúng như mục đích của khách hàng, tiền gửi tiết kiệm có mục đích chính đó là tiết kiệm. Tức là đây là một khoản tiền chắc chắn dư dùng để dành hay đầu tư, chứ không thích hợp dành cho việc chi tiêu, thanh toán cá nhân. Khách hàng luôn mong muốn có được một khoản lợi nhuận thu về từ việc gửi tiết kiệm này.
Gup và Jame W. Kolari (2005), tiền gửi tiết kiệm là một khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng để hưởng một mức lãi suất cố định trong một thời gian cố định. Theo Tran Huy Hoàng (2012), tiền gửi tiết kiệm là tiền gửi của các tầng lớp dân cư, người gửi tiền vào ngân hàng nhằm để dành, sinh lời và an toàn tài sản. Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền.
Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của N gân hàng, quyết định đến quy mô hoạt động và quy mô tín dụng, quyết định đến khả năng thanh toán và uy tín của N gân hàng. Các hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm Huy động tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động phổ biến nhất của ngân hàng. Khoản tiền này khá ổn định và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn huy động. Hiện nay, để nâng cao chất lượng dịch vụ và gia tăng lượng tiền gửi tiết kiệm.
Các ngân hàng đã đưa ra nhiều loại hình tiền gửi tiết kiệm khác nhau. Tùy thuộc vào mục đích cũng như nhu cầu của từng đối tượng trong nền kinh tế, tiền gửi tiết kiệm được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, việc phân loại theo thời hạn của khoản tiền gửi tiết kiệm vẫn là phổ biến nhất. Theo Điều 6 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm số 1160/2004/QĐ-N HN N , thì TGTK bao gồm TGTK có kỳ hạn và TGTK không kỳ hạn.
- TGTK không kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút theo yêu cầu mà không cần báo trước. Tiền gửi tiết kiệm này có lãi suất thực gửi, thông thưởng mức lãi suất này sẽ thấp hơn lãi suất có kỳ hạn. Thông thường người tiêu dùng chọn hình thức tiết kiệm không kỳ hạn này là để mục đích nhờ ngân hàng giữ tiền giúp một thời gian và sẽ rút bất cứ lúc nào cần thiết. Do đó tiết kiệm không kỳ hạn có kỳ hạn SVTH: Trần Thị C7m Tuyền 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Hoàng Thị Diệu Thúy ngắn, thậm chí được tính theo ngày. Ưu điểm • Được hưởng lãi suất thực theo ngày tính theo số dư còn lại cuối mỗi ngày. • Có thể rút tiền được bất cứ lúc nào trong giờ hành chính giúp bạn chủ động trong việc huy động vốn hơn. • Có thể sử dụng số tiết kiệm nảy để đảm bảo vay vốn hay bảo lãnh thứ ba vay vốn ngân hàng.
- TGTK có kỳ hạn: Là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỉ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Các tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm thường có các kỳ hạn khác nhau để người gửi tiền lựa chọn: 1 tuần, 2 tuần, tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng 9 tháng, 12 tháng, 18 tháng, 24 tháng, 36 tháng. Căn cứ vào các thời hạn gửi tiền được lựa chọn khác nhau mà khách hàng cũng sẽ được hưởng các mức lãi suất khác nhau. Các mức này sẽ cao hơn so với mức lãi suất khi gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
TGKT có kỳ hạn được thiết kế dành cho KH cá nhân có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Khi gửi TK có kỳ hạn, KH thường chỉ mát được tiền khi đến hạn, nếu rút trước hạn phải được sự đồng ý của N H và chỉ được hưởng mức lãi suất của tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời cũng không được rút trước hạn từng phần. học Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: • Lãi suất là có trước và cố định trong suốt thời gian gửi. • Số tiền lãi được tính hàng ngày và trả định kỳ hàng theo tháng/ quý/ năm theo từng thời hạn gửi.
• Các hình thức trả lãi: trả trước, trả sau và trả định kỳ. • Khách hàng có thể sử dụng số dư trên tài khoản tiết kiệm để thế chấp hay mở cầm cố vay vốn tại các tổ chức tín dụng. Phân loại tiền gửi theo thời gian bao gồm các hình thức huy động tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Khái niệm: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào SVTH: Trần Thị C7m Tuyền 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Hoàng Thị Diệu Thúy của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Đặc điểm: N gân hàng phải chi trả ngay lập tức vào bất kỳ thời điểm nào theo lệnh của chủ tài khoản. Vì vậy, đây là loại tiền gửi biến động nhiều nhất, thời gian duy trì ở N H là ngắn nhất, N H rất khó có thể dự đoán được cũng như bị động trong việc cân đối giữa huy động vốn và cho vay. Đây là loại tiền gửi đưa lại nguồn vốn cho N H với chi phí thấp, ít nhạy cảm với biến động của lãi suất.