CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 “ Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị”: “Kiểm soát nội bộ là quá trình do Ban quản trị, Ban giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất lao động, tuân thủ pháp luật và các đơn vị có liên quan. Thuật ngữ “kiểm soát” được hiểu là bất cứ khía cạnh nào của một hoặc nhiều thành phần của kiểm soát nội bộ”.
Theo định nghĩa của COSO (Committee of Sponsoring Organization), kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây: - Báo cáo tài chính (BCTC) đáng tin cậy. - Các luật lệ và quy định được tuân thủ. - Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả. Theo Liên đoàn Kế toán quốc tế (The International Federation of Accountant –IFAC): “Hệ thống kiểm soát nội bộ là kế hoạch của đơn vị và toàn bộ các phương pháp, các bước công việc mà các nhà quản lý DN tuân theo.
Hệ thống kiểm soát nội bộ trợ giúp cho các nhà quản lý đạt được mục tiêu một cách chắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả việc tôn trọng các quy chế quản lý; giữ an toàn tài sản, ngăn chặn, phát hiện sai phạm và gian lận, ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính kịp thời, đáng tin cậy”. Theo Viện kiểm toán độc lập Hoa kỳ (American Institute of Certificated 5 Public Accountant - AICPA): “Kiểm soát nội bộ bao gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả các phương pháp phối hợp và đo lường được thừa nhận trong doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài sản của họ, kiểm tra sự phù hợp và độ tin cậy của dữ liệu kế toán, tăng cường tính hiệu quả của hoạt động và khuyến khích việc thực hiện các chính sách quản lý lâu dài”. Theo định nghĩa của Viện kiểm toán quốc tế: “Hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng là tập hợp bao gồm các chính sách, quy trình, quy định nội bộ, các thong lệ, cơ cấu tổ chức của ngân hàng và đảm bảo phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro xảy ra”. Như vậy, Hệ thống KSNB là một quy trình kiểm soát bao gồm các cơ chế nghiệp vụ, các quy trình, biện pháp, thủ tục cũng như nội quy chính sách được thiết kế, vận hành bởi nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị nhằm giúp đơn vị đạt được mục tiêu, tổ chức hoạt động hiệu quả và hạn chế những rủi ro xảy ra cho đơn vị.
Mục tiêu và nhiệm vụ của Hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Mục tiêu - Mục tiêu kết quả hoạt động: Hiệu quả và hiệu năng của các hoạt động. Việc sử dụng các nguồn lực, nhân lực một cách tối ưu cần các tiêu chuẩn, định mức hoạt động để đánh giá. Phụ thuộc vào sự trung thực và độ tin cậy của các thông tin hoạt động trong đơn vị như chi phí, sản lượng, lao động, năng suất… Liên quan đến việc bảo vệ tài sản và thông tin của đơn vị: thủ tục bảo vệ tài sản, hạn chế tiếp cận tài sản, các quy định liên quan đến kiểm kê tài sản… Liên quan đến các công việc được hoàn thành đúng chỉ tiêu, đúng kế hoạch, kiểm toán viên nội bộ có đủ tầm nhìn để kiểm tra, đánh giá về phương hướng hoạt động của đơn vị.
- Mục tiêu thông tin: Sự trung thực và đáng tin cậy của BCTC. BCTC bắt buộc lập đúng theo quy định của Bộ tài chính và yêu cầu thông tin trên BCTC phải trung thực và đáng tin cậy. Nếu không trung thực, người quản lý phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và các bên thứ ba về tổn thất gây ra cho họ. - Mục tiêu tuân thủ: Sự tuân thủ pháp luật và quy định hiện hành.
6 Đó là sự tuân thủ pháp luật, quy định nhà nước và chấp hành các thủ tục, chính sách của đơn vị. Sự tuân thủ luật pháp gắn liền với trách nhiệm của người quản lý. Những hành vi phạm pháp trong đơn vị, dù người quản lý không gây ra, họ vẫn liên đới chịu trách nhiệm nếu nó có tổn thất đến các bên liên quan. Việc chấp hành các chính sách, quy chế của đơn vị liên quan trực tiếp đến sự thành công của người quản lý trong việc thực hiện các mục tiêu của mình.
Nhiệm vụ - Phát hiện và ngăn ngừa kịp thời các sai phạm trong hệ thống xử lý nghiệp vụ. Bảo vệ đơn vị trước những thất thoát có thể tránh. - Đảm bảo việc chấp hành chính sách kinh doanh. Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ 1.
Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát bao gồm các chức năng quản trị và quản lý, các quan điểm, nhận thức và hành động của Ban quản trị và Ban Giám đốc liên quan đến kiểm soát nội bộ và tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ đối với hoạt động của đơn vị. Môi trường kiểm soát tạo nên đặc điểm chung của một đơn vị, có tác động trực tiếp đến ý thức của từng thành viên trong đơn vị về công tác kiểm soát. Để tìm hiểu về môi trường kiểm soát của đơn vị, cần xem xét các yếu tố của môi trường kiểm soát sau đây: (a) Truyền đạt thông tin và yêu cầu thực thi tính chính trực và các giá trị đạo đức: Đây là những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thiết kế, vận hành và giám sát các kiểm soát; (b) Cam kết về năng lực: Sự cân nhắc của Ban Giám đốc về các mức độ năng lực cần đáp ứng cho mỗi nhiệm vụ cụ thể, các kỹ năng và kiến thức cần thiết tương ứng; (c) Sự tham gia của Ban quản trị: (1) Độc lập đối với Ban Giám đốc đơn vị; (2) Có kinh nghiệm và vị thế; (3) Mức độ tham gia của Ban quản trị, những thông tin Ban quản trị nhận được và sự xem xét kỹ lưỡng các hoạt động; 7 (4) Tính hợp lý trong hành động của Ban quản trị, gồm mức độ phức tạp của các câu hỏi đã được đặt ra và theo sát việc xử lý của Ban Giám đốc, và cách làm việc của Ban Giám đốc với kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập. (d) Triết lý và phong cách điều hành của Ban Giám đốc: (1) Cách tiếp cận đối với việc quản lý và chấp nhận rủi ro kinh doanh; (2) Quan điểm và hành động đối với việc lập và trình bày báo cáo tài chính; (3) Quan điểm đối với việc xử lý thông tin, công việc kế toán và nhân sự.
(e) Cơ cấu tổ chức: Khuôn khổ mà theo đó các hoạt động của đơn vị được lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát và soát xét nhằm đạt được mục tiêu; (f) Phân công quyền hạn và trách nhiệm: Cách thức phân công quyền hạn và trách nhiệm đối với các hoạt động; cách thức thiết lập trình tự hệ thống báo cáo và sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấp; (g) Các chính sách và thông lệ về nhân sự: Các chính sách và thông lệ liên quan đến các hoạt động tuyển dụng, định hướng, đào tạo, đánh giá, hướng dẫn, thăng tiến nhân viên, lương, thưởng và các biện pháp khắc phục sai sót. Quy trinh đánh giá rủi ro Thông thường mỗi đơn vị cần xây dựng một quy trình đánh giá rủi ro: (a) Xác định rủi ro kinh doanh liên quan (b) Ước tính mức độ của rủi ro; (c) Đánh giá khả năng xảy ra rủi ro; (d) Quyết định các hành động thích hợp đối với các rủi ro đó Quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị hình thành nên cơ sở để Ban Giám đốc xác định các rủi ro cần được quản lý. Một quy trình đánh giá rủi ro phù hợp với hoàn cảnh, bản chất, quy mô và mức độ phức tạp của đơn vị có thể giúp kiểm toán viên phát hiện các rủi ro có sai sót trọng yếu. Kiểm toán viên phải sử dụng xét đoán chuyên môn để xác định quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị có phù hợp hay không.
Đánh giá rủi ro kiểm soát là đánh giá tính hiệu quả, hiệu lực của hệ thống kiểm soát để phát hiện ra những khâu kiểm soát còn thiếu, còn yếu kém trong hoạt động, để thiết kế tang cường nhân lực, vào các điểm xung yếu của hệ thống, tạo nên 8 sự vững chắc của hệ thống kiểm soát nội bộ. Như vậy việc thường xuyên đánh giá rủi ro kiểm soát sẽ giúp người quản lý đưa ra được các giải pháp kịp thời, hiệu quả điều chỉnh, củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị một cách thích hợp. Hệ thống thông tin và trao đổi thông tin Hệ thống thông tin liên quan đến mục tiêu lập và trình bày báo cáo tài chính, trong đó có hệ thống kế toán, bao gồm các thủ tục và tài liệu được thiết kế và xây dựng để: (1) Tạo lập, ghi chép, xử lý và báo cáo các giao dịch của đơn vị (cũng như các sự việc và các điều kiện) và duy trì trách nhiệm liên quan đối với tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu; (2) Giải quyết các giao dịch đã bị xử lý sai, ví dụ theo dõi và tất toán các khoản mục chờ xử lý một cách kịp thời; (3) Xử lý và giải thích cho những cách thức có thể khống chế hoặc bỏ qua các kiểm soát; (4) Chuyển dữ liệu từ hệ thống xử lý giao dịch sang Sổ Cái; (5) Thu thập thông tin liên quan đến báo cáo tài chính về các sự việc và các điều kiện khác ngoài các giao dịch phát sinh, như việc khấu hao tài sản và các thay đổi trong khả năng thu hồi các khoản phải thu; (6) Đảm bảo những thông tin cần thuyết minh theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng đã được thu thập, ghi chép, xử lý, tóm tắt và trình bày phù hợp trên báo cáo tài chính.