Đặt vấn đề Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, để tồn tại và phát triển mỗi tổ chức phải luôn nỗ lực để có được định hướng chiến lược kinh doanh đúng đắn, cơ chế quản lý hiệu quả, nhằm tránh những rủi ro, đem lại lợi nhuận cao. Một trong số các tổ chức tín dụng như: ngân hàng, tổ chức tín dụng, phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân, kênh huy động vốn hiệu quả của Nhà nước đặc biệt là vùng nông thôn nơi người dân chưa có thói quen giao dịch với ngân hàng, QTDND cũng là một loại hình HTX rất phù hợp với đặc điểm vùng nông thôn. Vì thế, lựa chọn hàng đầu của người dân là Qũy tín dụng nhân dân. Các tổ chức tín dụng nói chung, Qũy tín dụng nhân dân nói riêng đóng vai trò quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Hoạt động của mô hình Quỹ tín dụng nhân dân tại Việt Nam cho thấy: Số quỹ chính thức là hội viên của Hiệp hội Quỹ tín dụng nhân dân và trong hệ thống của Ngân hàng Hợp tác (Co- opbank) khoảng 1. Tính đến tháng 4/2019, hệ thống QTDND Việt Nam có tổng tài sản 118.270 tỷ đồng, vốn điều lệ 4. Việc nghiên cứu, xây dựng và chuẩn hóa các cơ chế, quy trình hoạt động trong các lĩnh vực nghiệp vụ cụ thể của Qũy tín dụng nhân dân là hết sức cần thiết. Đặc biệt là công tác thiết lập, vận hành hệ thống kiểm soát và kiểm toán nội bộ sao cho thực sự hiệu quả, tuân thủ theo pháp luật nhằm quản lý, kiểm soát rủi ro, đảm bảo an toàn trong hoạt động.
Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của Qũy tín dụng nhân dân còn nhiều bất ổn do quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, địa bàn hoạt động nhỏ hẹp, khả 1 năng cạnh tranh thấp, loại hình kinh doanh nhiều rủi ro, dễ xảy ra gian lận và sai sót, việc đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của Qũy tín dụng không những được các nhà quản trị quan tâm mà còn là mối quan tâm của cơ quan quản lý Nhà nước và toàn xã hội. Như Qũy tín dụng nhân dân Thái Bình – Đồng Nai, QTDND Hoằng Trịnh Hoằng Hóa – Thanh Hóa,… lạm dụng chức quyền lừa đảo chiếm đoạt tài sản (3). Để ngăn ngừa những tổn thất và rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của Qũy tín dụng , ngoài các biện pháp thanh tra, kiểm tra, giám sát của ngân hàng Nhà nước, trước hết bản thân Qũy tín dụng nhân dân phải có những biện pháp hữu hiệu. Mà biện pháp quan trọng nhất là thiết lập được hệ thống kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hiệu quả.
Thực tế, hoạt động kiểm soát nội bộ ở các Qũy tín dụng mới được đề cập và áp dụng những năm gần đây nên phần lớn còn thiếu kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn. Qua buổi tọa đàm khoa học “Kiểm soát và kiểm toán nội bộ tại các Qũy tín dụng nhân dân” trao đổi những vấn đề liên quan tới hoạt động kiểm soát và kiểm toán nội bộ của QTDND. Phát biểu tại tọa đàm, ông Phạm Trường Giang nói: “ Có nhiều nguyên nhân trong thực tế kết quả hoạt động Ban kiểm soát của nhiều QTDND còn hạn chế như: Không chủ động trong việc xây dựng chương trình kế hoạch kiểm tra, giám sát; Chưa thể hiện được quan điểm, kiến nghị, đề xuất với các cấp liên quan, thụ động trong công việc; Chất lượng báo cáo, thông tin thống kê thấp; Vai trò, vị thể của Ban kiểm soát nhất là kiểm soát trưởng thấp, mờ nhạt” (4). Chính vì vậy, việc nghiên cứu và xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hoàn thiện ở Qũy tín dụng nhân dân Việt Nam nói chung và ở Qũy tín dụng nhân dân Hải Hà nói riêng là việc rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Qũy tín dụng nhân dân Hải Hà, em chọn đề tài: “Kiểm soát nội bộ quy trình cho vay khách hàng của Qũy tín dụng nhân dân Hải Hà” làm khóa luận tốt nghiệp của mình. Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Kiểm soát nội bộ quy trình cho vay khách hàng của Qũy tín dụng nhân dân Hải Hà.2 Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ nói chung và kiểm soát nội bộ quy trình cho vay khách hàng tại QTDND. - Phản ánh thực trạng công tác kiểm soát nội bộ quy trình cho vay khách hàng tại Qũy tín dụng nhân dân Hải Hà. - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kiểm soát nội bộ quy trình cho vay khách hàng tại Qũy tín dụng nhân dân Hải Hà.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Kiểm soát nội bộ quy trình cho vay khách hàng tại Qũy tín dụng nhân dân Hải Hà.2 Phạm vi nghiên cứu • Phạm vị không gian - Tại Qũy tín dụng nhân dân xã Hải Hà - Địa chỉ: Xóm 6, xã Hải Hà, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. • Phạm vi thời gian: - Thời gian nghiên cứu từ tháng 08/2020 – 12/2020 - Số liệu: Báo cáo tài chính năm 2017 – 2019 3 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ a) Khái niệm Khái niệm đầu tiên về kiểm soát được Henri Fayol – cha đẻ của thuyết quản trị hiện đại đưa ra năm 1917 là “kiểm soát việc kiểm tra để khẳng định mọi việc có được thực hiện theo đúng kế hoạch hoặc các chỉ dẫn và nguyên tắc đã được thiết lập hay không từ đó chỉ ra các yếu kém và sai phạm cần phải điều chỉnh, đồng thời ngăn ngừa không cho chúng tái diễn” (5). Theo Uỷ ban Hỗ trợ tổ chức về Chống gian lận thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ ( The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission – COSO), “ KSNB là một quá trình được thiết kế bởi các nhà quản lý, hội đồng quan trị để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu: (i) Báo cáo tài chính đáng tin cậy; (ii) Sự tuân thủ luật pháp và các quy định của tổ chức; (iii) Hiệu lực và hiệu quả hoạt động”. (6) Hiệp hội Kế toán Anh quốc (England Assocuation of Accountants – EAA) định nghĩa rằng “ KSNB được thiết lập bởi Hội đồng quản trị của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục đích: (i) Tiến hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong trật tự và có hiệu quả; (ii) Đảm bảo thực hiện đúng chiến lược kinh doanh mà Hội đồng quản trị đề ra; (iii) Bảo đảm sự an toàn cho tài sản; (iv) Đảm bảo tính toàn diện và độ tin cậy của thông tin kế toán”.
(6) Theo liên đoàn Kế toán Quốc tế (IAFC), “Hệ thống KSNB là một tập hợp các chính sách và thủ tục nhằm đạt được 4 mục tiêu: (i) Bảo vệ tài sản của doanh nghiệp; (ii) Đảm bảo sự an toàn cho tài sản;(iii) Bảo đảm tuân thủ pháp luật; (iv) Đảm bảo hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý”. (6) 4 Theo Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế số 400 (ISA400), “Hệ thống KSNB là các chính sách và thủ tục KSNB được xây dựng bởi ban quản lý của doanh nghiệp nhằm đảm bảo thực hiện được các mục tiêu quản lý: Quản lý cách trật tự và có hiệu quả các công việc kinh doanh gắn liền với những chính sách quản lý; Bảo vệ tài sản; Ngăn ngừa, phát hiện gian lận và sai sót; Đảm bảo sự đầy đủ và chính xác trong ghi chép kế toán, cung cấp thông tin kịp thời và đáng tin cậy”. (6) Theo Luật Kế toán 2015, “KSNB là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, pháp hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra”. (6) Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 315 (thay thế cho VAS 400) cũng đã định nghĩa rõ ràng “KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan”.
(6) Theo thông tư 44/2011/TT-NHNN – Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, “ Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp theo quy định tại Thông tư này và được tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra”. (7) Ngoài các quan điểm đã được khái quát ở trên, kiểm soát nội bộ trong giai đoạn khủng hoảng, nền kinh tế nhiều biến động như hiện nay cần đảm bảo rằng các yếu tố bất lợi, rủi ro sẽ được nhận diện, phòng ngừa, ngăn chặn từ đó giúp các QTD hoàn thành mục tiêu của mình. Do vậy, “Kiểm soát nội bộ là quá trình được thực thi bởi nỗ lực của tất cả thành viên trong QTD nhằm đảm bảo hợp lý rằng QTD nhận diện và đối phó với rủi ro nhằm đạt được mục tiêu 5 như: độ tin cậy của báo cáo tài chính; tính tuân thủ các quy định, luật lệ; đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của hoạt động và hướng tới sự phát triển bền vững của QTD.” b) Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ Theo như Báo cáo của Uỷ ban giám sát ngân hàng Basel (8), Kiểm soát nội bộ hữu hiệu đều được các nghiên cứu xác định nhằm ba mục tiêu cơ bản sau: - Đảm bảo tính trung thực, hợp lý và độ tin cậy của thông tin trên báo cáo tài chính. - Đảm bảo hợp lý tính tuân thủ luật pháp và các quy định.
- Đảm bảo tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của các hoạt động; giúp bảo vệ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo mật thông tin… 2.2 Các khung và mô hình về kiểm soát nội bộ Khung kiểm soát nội bộ COSO Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống.