CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng. Bảo lãnh ngân hàng được coi là một hình thức cấp tín dụng trong ngân hàng, xuất hiện vào những năm 60 của thế kỉ XX. Nghiệp vụ bảo lãnh bắt đầu được sử dụng tại Mỹ để thực hiện các giao dịch nội địa, sau đó được mở rộng và phát triển cho các giao dịch thương mại quốc tế vào những năm 70 của thế kỉ XX. Theo thông tư 07/2015/TT-NHNH, bảo lãnh ngân hàng được định nghĩa như sau: “Bảo lãnh ngân hàng (sau đây gọi là bảo lãnh) là hình thức cấp tín dụng theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận.2 Các chủ thể tham gia hoạt động bảo lãnh.
Một nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng phải có sự tham gia của ít nhất 3 bên bao gồm: Bên được bảo lãnh, Bên bảo lãnh và Bên thụ hưởng bảo lãnh. Ngoài ra còn có thể có thêm sự tham gia của một số bên như: các ngân hàng thương mại khác đồng bảo lãnh, ngân hàng chỉ thị, ngân hàng thông báo,… Bên bảo lãnh: là bên phát hành cam kết bảo lãnh, thường là các ngân hàng thương mại có khả năng tài chính, có chức năng phát hành cam kết bảo lãnh và được bên thụ hưởng chấp nhận. Có thể là một ngân hàng phục vụ bên được bảo lãnh hay nhiều ngân hàng cùng tham gia. Bên được bảo lãnh: là khách hàng được ngân hàng thương mại bảo lãnh.
Bên được bảo lãnh có thể là tổ chức hoặc cá nhân, trong hoặc ngoài nước và có đủ điều kiện được các ngân hàng bảo lãnh. Bên nhận bảo lãnh (hay còn gọi là bên thụ hưởng): là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng bảo lãnh của các ngân hàng thương mại.3 Đặc điểm của bảo lãnh.1 Bảo lãnh là một mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau. Trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng, các bên tham gia bảo lãnh có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau thông qua các văn bản hợp đồng.1: Mối quan hệ giữa các bên trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng Ngân hàng (Bên bảo lãnh) (2)Yêu cầu BL (3) Cam kết BL Bên được bảo Bên thụ hưởng (1) HĐ gốc lãnh bảo lãnh (Nguồn: Giáo trình tín dụng ngân hàng) (1) Mối quan hệ giữa Bên được bảo lãnh và Bên thụ hưởng bảo lãnh: được thể hiện qua hợp đồng kinh tế. Đây là mối quan hệ gốc - là cơ sở để phát sinh yêu cầu bảo lãnh, được thể hiện dưới dạng hợp đồng mua bán, hồ sơ mời thầu,… (2) Mối quan hệ giữa Bên được bảo lãnh và Bên bảo lãnh: được thể hiện thông qua hợp đồng cấp bảo lãnh.
Đây là văn bản thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện bảo lãnh của ngân hàng thương mại. Bên được bảo lãnh có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã trả thay khi ngân hàng phải thanh toán cho bên thụ hưởng theo cam kết bảo lãnh. (3) Mối quan hệ giữa Bên bảo lãnh và Bên thụ hưởng bảo lãnh: được thể hiện thông qua cam kết bảo lãnh do ngân hàng phát hành. Thư bảo lãnh/hợp đồng bảo lãnh là văn bản cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện các nghĩa vụ tài chính nếu bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ theo như cam kết.
8 Tính chất đa phương của bảo lãnh dẫn tới việc bảo lãnh ngân hàng là giao dịch không thể đơn phương huỷ ngang, sau khi cam kết bảo lãnh đã được phát hành hợp lệ thì người bảo lãnh không có quyền tuyên bố đơn phương hủy bỏ cam kết bảo lãnh trừ khi nó được sự đồng ý của người nhận bảo lãnh.2 Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập. Mặc dù hoạt động bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc nhưng nó lại có tính độc lập được thể hiện ở quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia. Thư bảo lãnh có tính độc lập tương đối với hợp đồng gốc bởi việc thanh toán và thực hiện nghĩa vụ của ngân hàng chỉ căn cứ vào điều khoản ghi trong cam kết bảo lãnh. Tất cả các vấn đề phát sinh trong hợp đồng kinh tế giữa bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng đều không liên quan đến nghĩa vụ của ngân hàng.
Mức độ độc lập của bảo lãnh phụ thuộc vào chính các điều kiện của bảo lãnh, nếu là bảo lãnh vụ điều kiện thì việc thanh toán được thực hiện theo yêu cầu đầu tiên, tính độc lập được đảm bảo.3 Bảo lãnh ngân hàng được xác lập và thực hiện dựa trên cơ sở chứng từ. Trong hoạt động của ngân hàng tất cả các giao dịch, nghiệp vụ đều phải được thực hiện dựa trên cơ sở chứng từ và hoạt động bảo lãnh cũng không là ngoại lệ. Cam kết bảo lãnh là một chứng từ để ngân hàng căn cứ thực hiện nghĩa vụ của mình khi bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng. Khi bên thụ hưởng bảo lãnh gửi yêu cầu đến ngân hàng thanh toán thì ngân hàng cần phải kiểm tra các thông tin của chứng từ mà bên thụ hưởng cung cấp có đúng và chính xác không, có phù hợp với các điều kiện trong thư bảo lãnh không.
Nếu các giấy tờ không hợp lệ và không thoả mãn các điều khoản trong thư bảo lãnh ngân hàng đã phát hành, thì ngân hàng có quyền từ chối nghĩa vụ thanh toán cho bên thụ hưởng.4 Bảo lãnh ngân hàng là một cam kết mang tính gián tiếp. Trong hoạt động bảo lãnh thì ngân hàng không phải ngay lập tức dùng nguồn tài chính của mình để thực hiện nghĩa vụ cho bên thụ hưởng, mà người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đầu tiên chính là khách hàng nếu họ vi phạm hợp đồng kinh tế đã kí kết. Ngân hàng cam kết chỉ thực hiện nghĩa vụ đối với bên thụ hưởng khi khách hàng của họ vi phạm hợp đồng mà không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã thoả thuận trước đó.5 Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng. Về bản chất hoạt động bảo lãnh dựa trên uy tín và khả năng tài chính của ngân hàng.
Do khi phát hành bảo lãnh, ngân hàng chưa phải xuất quỹ tiền mặt luôn để thực hiện nghĩa vụ tài chính nên khi đó chưa ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Vì vậy, hoạt động bảo lãnh được coi là một hoạt động ngoại bảng. Tuy nhiên, trong trường hợp ngân hàng phải xuất quỹ tiền mặt để thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với bên thụ hưởng thì khi đó sẽ ảnh hưởng đến bảng cân đối của ngân hàng. Khoản chi tiền mặt này sẽ được coi là một khoản nợ quá hạn.
Khi đó, hoạt động bảo lãnh đã được chuyển từ tài sản ngoại bảng thành tài sản nội bảng. Nếu hoạt động bảo lãnh xấu thì không chỉ ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng mà còn gây thiệt hại về mặt tài sản. Chính vì điều này, các NHTM cần thẩm định và cân nhắc kĩ về các nghiệp vụ bảo lãnh cung cấp cho khách hàng.4 Phân loại bảo lãnh. Có thể phân loại bảo lãnh theo các tiêu chí khác nhau: 1.1 Theo phương thức phát hành.
- Bảo lãnh trực tiếp. Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh đơn giản nhất trong đó ngân hàng trực tiếp chịu trách nhiệm phát hành bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng. Sau khi ngân hàng đã bồi thường và thanh toán nghĩa vụ cho bên thụ hưởng, ngân hàng có quyền truy đòi đối với bên được bảo lãnh. (Nguồn: Giáo trình tín dụng ngân hàng) 10 (1) Bên được bảo lãnh và Bên thụ hưởng bảo lãnh kí kết hợp đồng gốc.
(2) Bên được bảo lãnh gửi yêu cầu ngân hàng phát hành bảo lãnh và cam kết bồi hoàn. (3a,3b) Ngân hàng bảo lãnh xem xét và chấp nhận yêu cầu bảo lãnh, sau đó phát hành bảo lãnh, chuyển trực tiếp cho bên thụ hưởng hoặc chuyển gián tiếp thông qua ngân hàng thông báo. - Bảo lãnh gián tiếp. Bảo lãnh gián tiếp là loại bảo lãnh trong đó bên được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phục vụ mình (ngân hàng chỉ thị) đề nghị ngân hàng ở nước của bên thụ hưởng (ngân hàng phát hành) phát hành thư bảo lãnh và chuyển cho bên thụ hưởng.
Để bảo lãnh gián tiếp có hiệu lực thì ngân hàng chỉ thị phải phát hành thư bảo lãnh đối ứng cho ngân hàng phát hành. Bảo lãnh đối ứng có các điều khoản và thoả thuận giống như trong bảo lãnh chính.3: Bảo lãnh gián tiếp (4b) Ngân hàng phát ) Ngân hàng thông hành bảo lãnh báo (3) Ngân hàng chỉ (4a) (4b) thị (2) Người được bảo (1) Người thụ hưởng lãnh bảo lãnh (Nguồn: Giáo trình tín dụng ngân hàng) (1) Hợp đồng kinh tế được thoả thuận và kí kết giữa bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng. (2) Khách hàng yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chỉ thị cho ngân hàng chính phát hành bảo lãnh. 11 (3) Ngân hàng chỉ thị ra chỉ thị cho ngân hàng chính phát hành bảo lãnh và cam kết bồi hoàn thanh toán thông qua bảo lãnh đối ứng.
(4a, 4b) Ngân hàng thứ hai phát hành bảo lãnh và chuyển trực tiếp qua bên thụ hưởng bảo lãnh hoặc thông qua ngân hàng thông báo. Bảo lãnh gián tiếp thường được sử dụng trong trường hợp bên thụ hưởng bảo lãnh ở nước ngoài và ngân hàng phát hành ở ngay tại nước của bên thụ hưởng. Đối với hình thức này thì bên được bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành mà sẽ thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn cho ngân hàng chỉ thị, sau đó ngân hàng chỉ thị sẽ có trách nhiệm bồi hoàn cho ngân hàng phát hành. Khi có vi phạm hợp đồng kinh tế xảy ra thì bên thụ hưởng có quyền yêu cầu ngân hàng phát hành bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ, sau đó ngân hàng bảo lãnh lại truy đòi ngân hàng chỉ thị, cuối cùng ngân hàng chỉ thị sẽ yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ nợ.
- Đồng bảo lãnh.