CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LOGISTICS NGƯỢC 1. Khái quát về chuỗi cung ứng sản Mặc dù thuật ngữ “chuỗi cung ứng” đã xuất hiện vào năm 1905, những khái niệm về mạng lưới các nhà cung cấp, nhà sản xuất/nhà sản xuất và người tiêu dùng đã có từ rất lâu trước đó. Đầu những năm 1990 thuật ngữ “chuỗi cung ứng” và “quản lý chuỗi cung ứng” bắt đầu được sử dụng rộng rãi. Theo Ganeshan và Terry (1995) định nghĩa là “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các cơ sở vật chất và các phương án phân phối thực hiện các chức năng mua sắm nguyên vật liệu và chuyển đổi chúng thành bán thành phẩm, thành phẩm, đồng thời thực hiện chức năng phân phối tới khách hàng” [2].
Theo Lambert, Stock và Ellram (2006) lại định nghĩa: “Quản lý chuỗi cung ứng đề cập đến doanh nghiệp tích hợp quy trình kinh doanh từ người dùng cuối thông qua các nhà cung cấp cung cấp thông tin, hàng hóa và dịch vụ nhằm gia tăng giá trị cho khách hàng. Tuy nhiên, khái niệm này đã đưa ra “sự tích hợp quy trình kinh doanh để nâng cao giá trị cho khách hàng” chứ không chỉ nhấn mạnh chủ yếu về “chức năng mua sắm nguyên vật liệu và chuyển đổi chúng thành bán thành phẩm. Sau khi xem xét các khái niệm khác nhau, em quyết định chọn khái niệm chuỗi cung ứng sản phẩm của Martin Christopher làm nền tảng lý luận cho vấn đề nghiên cứu của luận văn. Martin Christopher đưa ra khái niệm rằng: “Chuỗi cung ứng là một hệ thống tổ chức, con người và các nguồn lực, thông tin, các hoạt động.liên quan tới việc di chuyển sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp hay nhà sản xuất đến người tiêu dùng” [4, tr.
Các yếu tố trong chuỗi: nhà cung cấp, nhà sản xuất/ nhà vận chuyển/kho vận/ phân phối….là một hệ thống liên quan, kết nối và liên hệ chặt chẽ với nhau giữa nhà sản xuất, phân phối, người tiêu dùng,… Dòng chảy sản phẩm sẽ đi từ thượng nguồn đến hạ nguồn, thông qua mô hình chuỗi: Thượng nguồn (upstream): bao gồm các hoạt động giữa nhà sản xuất và các nhà cung cấp của họ (có thể là các nhà sản xuất khác, các nhà lắp ráp,…) và cả những nhà cung cấp của nhà cung cấp (lớp 2). Hoạt động chủ yếu trong phần thượng lưu là mua sắm. Thư viện ĐH Thăng Long 5 Trung lưu (internal): bao gồm tất cả các hoạt động bên trong công ty để chuyển các đầu vào thành đầu ra, tính từ thời điểm các đầu vào đi vào tổ chức đến thời điểm các sản phẩm được phân phối ra khỏi tổ chức. Các hoạt động chủ yếu là quản lý sản xuất và quản lý lưu kho Hạ lưu (downstream): bao gồm tất cả các hoạt động nhằm phân phối sản phẩm đến khách hàng cuối cùng.
Trong phần này, các hoạt động chủ yếu là phân phối, lưu kho, vận tải và dịch vụ sau bán hàng.1 Cấu trúc dòng trong chuỗi cung ứng sản phẩm (nguồn:https://www.com/supply_chain_management/supply_chain_man agement_process_flow.htm) Dòng hàng hóa (materials flow): là dòng lưu thông và chuyển hoá về mặt vật chất; bắt đầu từ việc nguyên liệu thô xuất phát từ nhà cung cấp đầu tiên, chuyển đến doanh nghiệp sản xuất để tạo ra sản phẩm và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng (end to end). Dòng thông tin (information flow): Trong chuỗi cung ứng sản phẩm, dòng thông tin là, xuyên suốt mọi quá trình của chuỗi cung ứng. Dòng thông tin giúp kết nối dòng vật chất và phối hợp hoạt động giữa các thành viên. Dòng thông tin có tính 2 chiều, bao gồm: (1) Dòng đặt hàng bắt đầu từ phía khách hàng, thông tin thị trường, thông tin về yêu cầu của khách hàng và những ý kiến phản hồi của họ sau khi sử dụng sản phẩm; và (2) Dòng phản hồi bắt đầu từ phía các nhà cung cấp, phản ánh tình hình hoạt động của thị trường cung ứng, được xử lý rất kỹ trước khi chuyển tới khách hàng.
Sự kết hợp kịp thời, chính xác giữa hai chiều của dòng thông tin sẽ giúp giảm các chi phí có liên quan trong chuỗi cung ứng và cải thiện hiệu quả dịch vụ khách hàng. Đồng thời, việc chia sẻ thông tin trong chuỗi cung ứng thường mang lại lợi ích cho các thành viên. Tuy nhiên, 6 nhà quản trị nên phân loại thông tin, xác định chính xác đối tác, loại thông tin cần chia sẻ và đặc biệt là mức độ chia sẻ các thông tin đó. Dòng tiền (money flow): Cuối cùng, dòng tài chính liên quan đến việc chuyển tiền từ khách hàng sang nhà cung cấp.
Thông thường, khi khách hàng nhận được sản phẩm và kiểm tra nó, khách hàng sẽ thanh toán và tiền sẽ chuyển lại cho nhà cung cấp. Đôi khi tài chính chảy theo hướng khác (từ nhà cung cấp đến khách hàng) dưới hình thức ghi nợ. Khái quát về logistics ngược Thuật ngữ “logistics ngược” lần đầu tiên được sử dụng vào những năm 1990 và sau đó được tinh chỉnh qua thập kỷ. Nhiều người hiểu nó một cách đơn giản là sự di chuyển của hàng hóa từ một điểm đến cuối cùng điển hình trở lại chuỗi cung ứng.
Việc quản lý hoặc quy trình sau khi bán một sản phẩm liên quan đến logistics ngược. Để hiểu rõ hơn về “logistics ngược là gì”, dưới đây sẽ đưa ra một vài khái niệm: Theo Rogers và Tibben-Lembke (1998) định nghĩa: “Logistics ngược là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng nguyên liệu thô, hàng tồn kho trong quá trình, hàng hóa thành phẩm và thông tin liên quan từ điểm tiêu thụ đến điểm xuất phát cho mục đích thu hồi lại giá trị hoặc xử lý một cách thích hợp” [5]. Thêm vào đó, Rogers và Tibben-Lembke cho rằng “việc tái sản xuất và tân trang cũng có thể được đưa vào định nghĩa về logistics ngược”. Logistics ngược cũng bao gồm xử lý hàng hóa được trả lại do thiệt hại, hàng tồn kho theo mùa, bổ sung, cứu hộ, thu hồi và hàng tồn kho dư thừa.
Nó cũng bao gồm các chương trình tái chế, các chương trình vật liệu nguy hiểm, xử lý thiết bị lỗi thời và phục hồi tài sản. Theo khái niệm của The European Working Group về logistics ngược (1998), đã đưa ra một định nghĩa chính xác hơn về logistics ngược là “Quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát các luồng nguyên liệu thô, hàng tồn kho trong quá trình sản xuất và thành phẩm, từ điểm sản xuất, phân phối hoặc sử dụng đến điểm thu hồi hoặc điểm xử lý thích hợp” [6]. Có thể thấy khái niệm này được mở rộng và chi tiết hơn so với những khái niệm trước đó. Đặc biệt cụm “điểm sản xuất, phân phối hoặc sử dụng” được nêu rõ ràng thay vì cụm “điểm tiêu thụ”.
Có thể thấy rõ điểm khởi nguồn dòng logistics ngược không chỉ đến từ điểm tiêu thụ cuối cùng mà còn trong quá trình sản xuất. Nguyên tắc cơ bản trong logistics ngược Trên thực tế khách hàng luôn muốn sản phẩm của họ có giá trị trọn đời, trái lại hầu hết các doanh nghiệp nào không thể đáp ứng nhu cầu cung cấp dịch vụ sau bán hàng theo kỳ vọng của khách hàng mong muốn. Bởi vì các doanh nghiệp nhận thấy khó khăn Thư viện ĐH Thăng Long 7 trong việc hỗ trợ khách hàng sau khi mua hàng mang lại lợi ích gì cho doanh nghiệp, đồng thời khó có thể dự đoán trước, lập kế hoạch cho sau bán hàng. Điều này đã làm cho nhiều doanh nghiệp nhìn nhận về vấn đề sau bán hàng là một nhiệm vụ khó khăn.
Thêm vào đó các doanh nghiệp vẫn đang tập trung cho dòng chảy xuôi của hàng hóa có thể hàng hóa vận chuyển theo dòng chảy trên xảy ra nhiều vấn đề khác như hỏng, lỗi, …. Tất cả đều dẫn đến việc trải nghiệm của khách hàng không được như mong muốn, giảm khả năng cạnh tranh và giá trị chuỗi. Đối với các doanh nghiệp, những thách thức khi không biết chính xác số lượng hàng trả lại khác nhau giữa các khu vực, các nguyên tắc về trả lại hàng phức tạp ảnh hưởng đến chi phí trả lại và sửa chữa, chi phí nhân công, …Tuy nhiên doanh nghiệp đã nhận thấy cơ hội để hỗ trợ khách hàng thiết kế lại toàn bộ quy trình nhằm giảm thiểu chi phí và tối đa hóa giá trị. Mở rộng hoạt động Logistics ngược là một trong những khía cạnh giúp các doanh nghiệp nâng cao dịch vụ khách hàng sau giao dịch.
Vai trò của logistics ngược Trong quá trình thực hiện các hoạt động logistics, sẽ xuất hiện rất nhiều vấn đề về chất lượng đến tay người tiêu dùng. Lúc này các sản phẩm cần phải nhanh chóng thu hồi và quay lại nhà sản xuất để kịp thời có những phương án xử lý phù hợp. Do đó, Logistics ngược có vai trò quan trọng đối doanh nghiệp: - Logistics ngược góp phần nâng cao dịch vụ khách hàng Thông qua việc thu hồi các sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu để khắc phục, sửa chữa, bảo dưỡng…. sẽ làm thỏa mãn nhu cầu sử dụng của khách hàng giúp khách hàng yên tâm và hài lòng kể cả khi "không may" mua phải sản phẩm lỗi".
Đây là một lợi thế nâng cao giá trị và lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa. - Logistics ngược giúp tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Chi phí là một trong những khía cạnh quan trọng vì khi thu hồi các chi phí sẽ phát sinh như vận chuyển, dự trữ, phục hồi, sửa chữa, …hàng hóa thu hồi cũng rất đáng kể. Theo các nhà kinh tế, chi phí dành cho các hoạt động logistics ngược trung bình chiếm khoảng 3% - 15% tổng chi phí của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu tổ chức và thực hiện tốt dòng logistics ngược, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm đáng kể các khoản chi phí khác như: chi phí nguyên vật liệu do được tái sinh, giảm chi phí bao bì nhiều lần, thu hồi được giá trị còn lại của những sản phẩm đã loại bỏ.
Ngoài ra, quá trình logistics ngược được tối ưu có thể tác động hiệu quả đến lợi nhuận. Hàng trả có thể nhanh chóng được tiếp nhận, kiểm tra và sửa chữa trước khi trở lại kho để bán lại. 8 - Logistics ngược tạo dựng hình ảnh “xanh cho doanh nghiệp Ô nhiễm môi trường đang là một trong những vấn đề nghiệm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Một trong những nguyên nhân đã góp phần làm gia tăng ô nhiễm môi trường nghiệm trọng như hiện nay là do hoạt động sản xuất kinh doanh từ các doanh nghiệp.
Vì thế, các doanh nghiệp cần giảm sự tác động tiêu cực đến môi trường thông qua việc thu hồi, tận dụng nguyên vật liệu, phế phẩm và bao bì để tái chế.