Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh bùng nổ dân số toàn cầu và sự gia tăng của hoạt động thương mại điện tử, khối lượng chất thải sinh hoạt và công nghiệp phát sinh đang tạo ra áp lực lớn đối với môi trường. Vòng đời của các sản phẩm ngày càng bị rút ngắn do nhu cầu đổi mới công nghệ và xu hướng tiêu dùng nhanh, làm gia tăng lượng sản phẩm bị thu hồi và thải bỏ. Theo số liệu của Cục Kiểm soát ô nhiễm môi trường được tác giả trích dẫn, hàng năm thế giới thải ra hơn 300 triệu tấn rác thải nhựa. Tại Việt Nam, lượng rác thải nhựa phát sinh trung bình khoảng 1,8 triệu tấn mỗi năm, trong đó trên 80% bị xả thải chỉ sau một lần sử dụng. Việt Nam đứng thứ 4 tại châu Á về lượng chất thải nhựa phát sinh (sau Trung Quốc, Indonesia, Philippines) và xếp thứ 17/109 quốc gia có mức độ ô nhiễm rác thải nhựa lớn theo Báo cáo của Liên Hợp Quốc.

Thực trạng xử lý chất thải nhựa tại Việt Nam còn nhiều hạn chế về công nghệ: 70% lượng rác thải nhựa được xử lý bằng hình thức chôn lấp hoặc tiêu hủy, chỉ 30% được thu gom để tái chế và tái sử dụng. Bên cạnh đó, mức tiêu thụ nhựa trung bình tại Việt Nam tăng trưởng khoảng 10,6%/năm, nhưng ngành sản xuất nhựa trong nước lại phụ thuộc tới 70% nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Thực trạng này làm gia tăng chi phí sản xuất và giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp mới chỉ triển khai logistics ngược ở mức độ thu hồi sản phẩm phục vụ sửa chữa, bảo dưỡng hoặc đổi trả, chưa hình thành chuỗi cung ứng khép kín nhằm thu hồi, tái sản xuất và tái chế nguyên liệu bền vững.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm 3 nhiệm vụ chính:

  1. Tổng hợp các vấn đề lý thuyết từ các nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt động logistics ngược và phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm.
  2. Phân tích chi tiết thực trạng hoạt động logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa tại Việt Nam.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển hoạt động logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa tại Việt Nam dựa trên thực trạng và dự báo xu hướng phát triển đến năm 2030.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chuỗi cung ứng ngành nhựa Việt Nam; hoạt động logistics ngược và sự phát triển logistics ngược trong chuỗi cung ứng các sản phẩm nhựa; các thành viên trong chuỗi (nhà sản xuất, nhà phân phối, cơ sở thu gom, cơ sở tái chế, cơ quan quản lý); mô hình tổ chức và các dòng logistics ngược của sản phẩm nhựa.
  • Phạm vi không gian: Ngành công nghiệp nhựa tại thị trường Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu lịch sử hình thành và thực trạng phát triển giai đoạn 1960 – 2024, xây dựng dự báo và định hướng giải pháp đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng và logistics ngược dựa trên các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế:

  • Khái niệm và quy trình logistics ngược: Kế thừa lý thuyết của Lambert (1981), Murphy (1989), Stock (1992), Kopicki (1993), Kroon & Vrijens (1995), Carter & Ellram (1998), Rogers & Tibben-Lembke (1999), De Brito & Dekker (2002), Guide (2002), Prahinski & Kocabasoglu (2006) và Trần Thị Thu Hương (2018). Quy trình chuẩn gồm 4 bước: Tập hợp, Kiểm tra, Xử lý (với 5 phương thức: tái sử dụng, sửa chữa, tái sản xuất, tái chế, tiêu hủy), Phân phối lại.
  • Khái niệm chuỗi cung ứng: Tiếp cận theo Mentzer (2001) và Christopher (2011), nhấn mạnh đến sự kết hợp giữa dòng chảy xuôi và dòng chảy ngược của sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin.
  • Cấu trúc chuỗi cung ứng: Phân loại theo mức độ hoàn thiện gồm Chuỗi cung ứng truyền thống, Chuỗi cung ứng mở rộng và Chuỗi cung ứng khép kín.
  • Mô hình mạng lưới: Mô hình trung tâm thu hồi, kiểm tra và phân loại tập trung của Rogers (1999) và Blackburn (2004).
  • Khung phân tích nhân tố ảnh hưởng: Tổng hợp từ nghiên cứu của Bouzon và cộng sự (2015), Chinda (2017), Kaviani và cộng sự (2020), Govindan (2013), Jindal & Sangwan (2013) chia thành 3 nhóm: nhân tố doanh nghiệp, nhân tố chính phủ và nhân tố thị trường.
  • Văn bản pháp luật: Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 quy định về quản lý chất thải.
Tiêu chí phân biệt Logistics xuôi Logistics ngược
Khả năng dự báo Dễ hoạch định, độ chắc chắn cao Khó dự báo về thời gian, số lượng và chất lượng
Quy trình vận chuyển Từ một nhà sản xuất đến nhiều điểm tiêu dùng (phân kỳ) Thu gom từ nhiều điểm tiêu dùng về một điểm xử lý (hội tụ)
Chất lượng sản phẩm Đồng nhất, đáp ứng tiêu chuẩn kiểm định Không đồng nhất, phụ thuộc vào hiện trạng thu hồi
Bao bì sản phẩm Đóng gói chuẩn hóa, bảo vệ nguyên vẹn sản phẩm Thường bị hư hại, biến dạng, không đồng bộ
Tốc độ vận chuyển Được ưu tiên cao để đáp ứng nhu cầu thị trường Tốc độ linh hoạt, ưu tiên cách thức và hiệu quả xử lý
Kiểm soát chi phí Dự toán và kiểm soát chặt chẽ theo kế hoạch Khó kiểm soát do phát sinh nhiều biến số bất định

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp tổng hợp dữ liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), Bộ Công Thương, Công ty Chứng khoán FPT (FPTS) và các tổ chức đào tạo logistics (VILAS).
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích định tính kết hợp phân tích số liệu thống kê mô tả nhằm đánh giá thực trạng cấu trúc ngành nhựa, mô hình vận hành các dòng sản phẩm ngược và tổ chức mạng lưới logistics ngược tại Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về phát triển hoạt động logistics ngược trong chuỗi cung ứng sản phẩm nhựa tại Việt Nam

Chương này tập trung xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết về logistics ngược và chuỗi cung ứng khép kín:

  • Bản chất của logistics ngược: Là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng dịch chuyển của nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, bao bì và phế thải từ điểm tiêu thụ quay về điểm xuất phát hoặc các điểm xử lý chuyên biệt nhằm thu hồi giá trị còn lại hoặc xử lý an toàn môi trường.
  • Phân định khái niệm: Tác giả phân biệt rõ logistics ngược với logistics xuôi, quản lý chất thải và logistics xanh. Logistics ngược khác quản lý chất thải ở chỗ đầu ra của nó tạo thành nguyên liệu đầu vào cho chuỗi cung ứng ban đầu hoặc chuỗi cung ứng mới, trong khi quản lý chất thải chỉ dừng lại ở việc xử lý loại bỏ chất thải. So với logistics xanh, logistics ngược tập trung vào dòng chảy ngược để thu hồi giá trị kinh tế, còn logistics xanh bao hàm các giải pháp giảm thiểu tác động môi trường trên toàn bộ chuỗi cung ứng (chủ yếu theo chiều xuôi).
  • Phát triển hoạt động logistics ngược: Được định nghĩa theo Trần Thị Thu Hương (2018) là sự hoàn thiện về tổ chức liên kết giữa các thành viên và mở rộng các dòng hoạt động xử lý thu hồi (tái sử dụng, sửa chữa, tái sản xuất, tái chế, tiêu hủy). Việc lựa chọn tự thực hiện hay thuê ngoài (3PL) phụ thuộc vào 4 yếu tố: đặc điểm sản phẩm thu hồi, quy mô/tính liên tục của việc thu hồi, năng lực cạnh tranh cốt lõi, chính sách và nguồn lực của doanh nghiệp.
  • Bộ tiêu chí đánh giá: Gồm 3 nhóm tiêu chuẩn: mức độ hoàn thiện tổ chức mạng lưới, hiệu quả thực hiện (tự vận hành hoặc thuê ngoài), và hiệu quả xử lý các dòng sản phẩm thu hồi (cơ cấu, khối lượng, tỷ lệ tái chế so với chôn lấp).

Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động logistics ngược trong chuỗi cung ứng các sản phẩm nhựa tại Việt Nam

Chương 2 phản ánh bức tranh toàn cảnh về ngành nhựa và thực trạng triển khai logistics ngược:

Lịch sử phát triển ngành nhựa Việt Nam:
(Khởi đầu)      (Đổi mới)       (Tăng tốc)      (Mở rộng & Hội nhập)
  • Lịch sử và quy mô tiêu thụ:

    • Giai đoạn 1960 – 1980: Hình thành Nhà máy nhựa PVC Việt Trì năm 1961 (công suất 350 tấn/năm). Mức tiêu thụ đạt 1 kg/người/năm. Năm 1976 dây chuyền dừng hoạt động do công nghệ lạc hậu và chi phí cao.
    • Giai đoạn 1980 – 1999: Cuối thập niên 1980 tăng trưởng đạt trên 25%/năm. Giai đoạn 1990 – 1999 tiêu thụ đạt 3,8 kg/người/năm.
    • Giai đoạn 2000 – 2010: Năm 2000 tiêu thụ đạt 11 kg/người/năm; năm 2005 – 2006 đạt 21 kg/người/năm. Ngành được xếp vào nhóm công nghiệp mũi nhọn (2003). Năm 2008 – 2010 tăng trưởng đạt 40% do giá hạt nhựa thế giới giảm; năm 2010 thị trường bất động sản phục hồi đưa tăng trưởng đạt 23%.
    • Giai đoạn 2010 – 2024: Giai đoạn 2010 – 2015 tăng trưởng trung bình 16% – 18%/năm. Mức tiêu thụ bình quân đầu người tăng từ 33 kg (2010) lên 41 kg (2015) và đạt 63 kg (2017), tăng hơn 50% chỉ sau hai năm. Tăng trưởng sản lượng năm 2017 đạt 10,8%.
  • Thị trường xuất nhập khẩu nguyên liệu và sản phẩm:

    • Xuất khẩu (2010 – 2015): Sản phẩm nhựa Việt Nam xuất sang hơn 10 thị trường; trong đó lớn nhất là Nhật Bản (22,1%) và Mỹ (14,6%).
    • Nhập khẩu nguyên liệu (2018 – 2022): Năm 2022, giá trị nhập khẩu nguyên vật liệu nhựa đạt 12,450 tỷ USD và sản phẩm nhựa đạt 8,209 tỷ USD. Các chủng loại nhập khẩu chính gồm PE (chiếm hơn 30% khối lượng, 25,4% giá trị), PP (20,3% giá trị), cùng PVC, PET, PS, EVA.
Thị trường cung cấp nguyên liệu nhựa cho Việt Nam (2018 – 2022) Tỷ trọng
Ả Rập Xê Út (Arab Saudi) 20%
Hàn Quốc 19%
Đài Loan 15%
Thái Lan 10%
Trung Quốc 8%
Singapore 5%
Các thị trường khác 23%
  • Thực trạng vận hành logistics ngược ngành nhựa:
    • Mạng lưới thu gom còn mang tính tự phát, phân tán qua hệ thống đồng nát, cơ sở phế liệu tư nhân nhỏ lẻ trước khi đến cơ sở tái chế.
    • Các dòng vật chất nhựa tái chế phổ biến gồm: PS, PVC, HDPE, PE, PP, LDPE.
    • Các doanh nghiệp chưa xây dựng được trung tâm thu hồi tập trung theo mô hình Blackburn; hoạt động thu hồi chủ yếu bị động, tập trung xử lý hàng lỗi trong khâu phân phối thay vì chủ động thu hồi sản phẩm sau sử dụng từ người tiêu dùng.
    • Tồn tại mâu thuẫn về trách nhiệm giữa các bên tham gia (nhà sản xuất, đơn vị bán lẻ, cơ sở tái chế) và thiếu sự liên kết thông tin dữ liệu trong chuỗi.

Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động logistics ngược trong chuỗi cung ứng các sản phẩm nhựa tại Việt Nam

Chương 3 đưa ra định hướng phát triển và hệ thống giải pháp thực thi:

  • Dự báo tiềm năng: Đến năm 2030, áp lực từ các hiệp định thương mại tự do (EVFTA, cam kết WTO) và quy định pháp lý về Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) sẽ thúc đẩy chuỗi cung ứng nhựa chuyển dịch sang mô hình khép kín. Dự báo mô hình tổ chức mạng lưới logistics ngược sẽ định hình các trung tâm thu gom, phân loại tập trung cấp vùng.
  • Nhóm giải pháp về tổ chức mạng lưới: Xây dựng mô hình chuỗi cung ứng khép kín; thành lập các trung tâm logistics thu hồi tập trung để tối ưu hóa quy mô vận chuyển và phân loại; kết hợp linh hoạt giữa tự vận hành và thuê ngoài dịch vụ logistics chuyên nghiệp (3PL/4PL).
  • Nhóm giải pháp theo các dòng logistics ngược: Chuẩn hóa quy trình phân loại tại nguồn cho từng dòng nhựa (nhựa tái sử dụng, nhựa sửa chữa, nhựa tái sản xuất, nhựa tái chế bóc tách nguyên liệu, nhựa thải bỏ xử lý tiêu hủy an toàn).
  • Nhóm giải pháp đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Hoàn thiện khung khổ pháp lý, ban hành các quy chuẩn kỹ thuật cho sản phẩm nhựa tái chế; xây dựng cơ chế ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ xử lý chất thải nhựa; quy định rõ trách nhiệm thu hồi của nhà sản xuất.
  • Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp ngành nhựa: Nâng cấp công nghệ dây chuyền tái chế; đẩy mạnh ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin truy xuất nguồn gốc; đào tạo nâng cao trình độ kỹ thuật cho đội ngũ lao động; tăng cường liên kết giữa nhà sản xuất hạt nhựa nguyên sinh và cơ sở tái chế hạt nhựa tái sinh.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Tổng hợp hệ thống dữ liệu định lượng về lịch sử tiêu thụ nhựa tại Việt Nam: từ mức sơ khai 1 kg/người/năm (1961), 3,8 kg (1990 – 1999), 11 kg (2000), 21 kg (2005 – 2006), 33 kg (2010), 41 kg (2015) đến 63 kg/người/năm (2017).
    • Phản ánh cơ cấu phụ thuộc nguyên liệu của ngành nhựa: nhập khẩu 12,450 tỷ USD nguyên vật liệu (2022) từ các thị trường chủ chốt (Ả Rập Xê Út 20%, Hàn Quốc 19%, Đài Loan 15%), trong đó PE và PP chiếm gần 50% tổng giá trị nhập khẩu.
    • Phân tích thực trạng 70% rác thải nhựa vẫn bị xử lý bằng chôn lấp/tiêu hủy và chỉ 30% được tái chế/tái sử dụng; chỉ rõ các chủng loại nhựa tái chế chủ lực (PS, PVC, HDPE, PE, PP, LDPE).
  • Giải pháp đề xuất: Khóa luận xác lập mô hình mạng lưới logistics ngược tập trung, kết hợp phân luồng 5 dòng sản phẩm xử lý và kiến nghị cụ thể cho 2 nhóm chủ thể: Nhà nước (chính sách, quy chuẩn, ưu đãi) và Doanh nghiệp (công nghệ, liên kết chuỗi, nguồn nhân lực).
  • Đóng góp của đề tài: Tác giả đã mở rộng phạm vi nghiên cứu logistics ngược tại Việt Nam từ các ngành truyền thống (điện tử, pin) sang ngành sản xuất và kinh doanh sản phẩm nhựa – một ngành có mức độ phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu cao và phát sinh lượng rác thải lớn, đóng góp cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng khép kín cho ngành nhựa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ các hiệp hội, cơ quan quản lý và tài liệu nghiên cứu sẵn có; chưa triển khai khảo sát định lượng sơ cấp với cỡ mẫu cụ thể trên các doanh nghiệp ngành nhựa để đo lường chi phí vận hành logistics ngược thực tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát thực nghiệm trên các nhóm doanh nghiệp nhựa cụ thể (nhựa bao bì, nhựa xây dựng, nhựa kỹ thuật, nhựa dân dụng); lượng hóa chi phí - lợi ích khi đầu tư trung tâm logistics ngược tập trung; nghiên cứu tác động thực thi của chính sách Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) đối với chuỗi cung ứng nhựa tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh doanh quốc tế, Quản trị Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng, Quản trị môi trường, Kinh tế công nghiệp.
  • Giá trị thực tiễn: Cung cấp nguồn số liệu lịch sử và cơ cấu xuất nhập khẩu chi tiết của ngành nhựa Việt Nam; đóng vai trò là tài liệu tham khảo để thiết kế mô hình dòng logistics ngược, đánh giá phương án thuê ngoài logistics và xây dựng chiến lược chuỗi cung ứng tuần hoàn cho các doanh nghiệp sản xuất nhựa.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ xử lý rác thải nhựa tại Việt Nam theo số liệu trong khóa luận là bao nhiêu?
Theo số liệu được tác giả trích dẫn, lượng rác thải nhựa phát sinh trung bình khoảng 1,8 triệu tấn/năm. Trong đó, khoảng 70% lượng rác thải nhựa được xử lý bằng cách chôn lấp và tiêu hủy, chỉ 30% còn lại được thu gom để tái chế và tái sử dụng. Hơn 80% sản phẩm nhựa bị thải bỏ chỉ sau 1 lần sử dụng.

2. Mức độ phụ thuộc nguyên vật liệu nhập khẩu của ngành nhựa Việt Nam như thế nào?
Ngành nhựa Việt Nam phụ thuộc khoảng 70% vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Năm 2022, giá trị nhập khẩu nguyên vật liệu nhựa đạt 12,450 tỷ USD. Các nguồn cung cấp chính gồm Ả Rập Xê Út (20%), Hàn Quốc (19%), Đài Loan (15%), Thái Lan (10%), Trung Quốc (8%), Singapore (5%). Chủng loại nhập khẩu lớn nhất về khối lượng là PE (chiếm trên 30%), về giá trị là PE (25,4%) và PP (20,3%).

3. Mức tiêu thụ nhựa bình quân đầu người tại Việt Nam đã thay đổi qua các mốc thời gian nào?
Sản lượng tiêu thụ nhựa bình quân đầu người tại Việt Nam tăng trưởng qua các giai đoạn: năm 1961 đạt 1 kg/người/năm; giai đoạn 1990 – 1999 đạt 3,8 kg/người/năm; năm 2000 đạt 11 kg/người/năm; năm 2005 – 2006 đạt 21 kg/người/năm; năm 2010 đạt 33 kg/người/năm; năm 2015 đạt 41 kg/người/năm và đến năm 2017 đạt 63 kg/người/năm.

4. Quy trình logistics ngược trong khóa luận gồm những bước nào và có mấy phương thức xử lý sản phẩm?
Quy trình logistics ngược gồm 4 bước chính: Tập hợp, Kiểm tra, Xử lý và Phân phối lại. Bước xử lý bao gồm 5 phương thức: Tái sử dụng (Reuse), Sửa chữa (Repair), Tái sản xuất (Remanufacture), Tái chế (Recycle) và Tiêu hủy/chôn lấp (Disposal).

5. Những loại nhựa nào đang được thu gom và tái chế phổ biến tại Việt Nam?
Các chủng loại nhựa đang được tái chế và tái sử dụng phổ biến tại Việt Nam bao gồm: Polystyrene (PS), Polyvinylchloride (PVC), High Density Polyethylene (HDPE), Polyethylene (PE), Polypropylene (PP) và Low-density polyethylene (LDPE).


Kết luận

Khóa luận của sinh viên Lê Thùy Linh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về logistics ngược và chuỗi cung ứng khép kín, đồng thời phân tích thực trạng ngành công nghiệp nhựa Việt Nam với các dữ liệu thực tế về sản lượng tiêu thụ, cơ cấu xuất nhập khẩu và tỷ lệ xử lý chất thải. Công trình chỉ rõ những bất cập trong việc phụ thuộc 70% nguyên liệu nhập khẩu và tình trạng 70% rác thải nhựa bị chôn lấp/tiêu hủy. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng các giải pháp tổ chức mạng lưới trung tâm thu hồi tập trung và phân luồng dòng xử lý vật chất, cung cấp tài liệu tham khảo cho việc phát triển chuỗi cung ứng tuần hoàn trong ngành nhựa đến năm 2030.