mở đầu, trình bày tính thiết thực của đề tài nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Chương 2 - Cơ sở lý luận về NQTM : hệ thống hóa về mặt lý luận để làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm và phương thức hoạt động của hình thức NQTM. Từ đó, đề tài giúp người đọc có cái nhìn tổng quan và toàn diện hơn về hình thức kinh doanh mới mẻ này. Chương 3 - Thực trạng hoạt động NQTM tại TP.HCM, trong đó: - Khái quát hóa hệ thống pháp luật liên quan đến NQTM và đưa ra khó khăn ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động NQTM trong thời gian qua.
- Giới thiệu sơ nét về các hệ thống NQTM; tình hình hoạt động của các hệ thống này tại TP.HCM và phân tích kết quả khảo sát phỏng vấn các cửa hàng nhận quyền cũng như các thông tin thu thập từ các bên NQ. - Thông qua các kết quả điều tra, khảo sát, đề tài đánh giá thực trạng hoạt động NQTM tại TP.HCM, rút ra các tồn tại và nguyên nhân hạn chế sự phát triển của hình thức NQTM trong thời gian qua. Chương 4 - Các giải pháp thúc đẩy sự phát triển hoạt động NQTM tại TP. - Căn cứ vào những đặc điểm về đời sống dân cư, tình hình kinh tế, chính trị…đề tài phân tích tiềm năng phát triển hoạt động NQTM tại TP.HCM trong tương lai và đưa ra các loại hình sản phẩm, dịch vụ có khả năng áp dụng hình thức NQTM.
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động NQTM trong thời gian qua cũng như tiềm năng phát triển của hình thức này, đề tài đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động NQTM phát triển. Chương 5 - Kết luận và kiến nghị: Đề tài đúc kết lại những kết quả của nội dung nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị đối với Nhà nước tạo điều kiện cho hoạt động NQTM phát triển. Đồng thời nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 Mục tiêu nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận về NQTM Phân tích thực trạng hoạt động NQTM tại Đánh giá tiềm năng phát triển hoạt động NQTM TP.HCM trong thời gian qua Các vấn đề pháp lý Tình hình kinh doanh Tình hình kinh Các yếu tố về xã hội Các yếu tố về kinh tế, Các yếu tố về chính về NQTM của bên nhượng doanh của bên (dân số, thu nhập, môi trường kinh trị, pháp luật và một quyền nhận quyền thói quen, xu hướng doanh số yếu tố khác tiêu dùng.) Những thành công và khó khăn Những cơ hội và thách thức đối với sự - Về phía các bên nhượng quyền phát triển của hoạt động kinh doanh - Về phía các bên nhận quyền NQTM - Về phía nhà nước Các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động NQTM - Về phía các bên nhượng quyền - Về phía các bên nhận quyền - Về phía nhà nước và các cơ quan hữu quan Hình 1.2 Kết cấu của đề tài 19 Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI 2.
Khái quát về NQTM (Franchising): 2. Định nghĩa: Như chúng ta đã biết, NQTM là một hình thức kinh doanh đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Đã có nhiều khái niệm được nêu ra của nhiều trường phái khác nhau nhằm giải thích, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh nhượng quyền đạt hiệu quả. Tuy nhiên, do sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội giữa các quốc gia, nên các khái niệm này thường khác nhau.
Các khái niệm dưới đây được chọn lọc dựa trên sự khác nhau trong việc quản lý điều chỉnh các hoạt động NQTM của một số nước tiêu biểu: - Theo Hiệp Hội NQTM quốc tế (The International Franchise Association) đã định nghĩa NQTM như sau: “NQTM là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền theo đó bên nhượng quyền đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của bên nhận trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên; Bên nhận quyền hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát và bên nhận quyền đang hoặc sẽ đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình. Theo định nghĩa này, vai trò của bên nhận quyền trong việc đầu tư vốn và điều hành doanh nghiệp được đặc biệt nhấn mạnh hơn so với trách nhiệm của bên nhượng quyền. - Theo Hội đồng Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (The US Federal Trade Commission –FTC) định nghĩa: “Một hợp đồng NQTM là hợp đồng theo đó bên nhượng quyền: (1) Hỗ trợ đáng kể cho Bên nhận quyền trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của Bên nhận; (2) Cấp quyền sử dụng nhãn hiệu cho Bên nhận quyền để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu hàng hóa của bên nhượng quyền và; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 (3) Yêu cầu bên nhận quyền thanh toán cho bên nhượng quyền một khoản phí tối thiểu. Hoạt động kinh doanh của bên nhận nhượng quyền phải triệt để tuân theo kế hoạch hay hệ thống tiếp thị của bên nhượng quyền gắn liền với nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu, tiêu chí, quảng cáo và những biểu tượng thương mại khác của chủ thương hiệu.
Người nhận quyền phải trả một khoản phí, trực tiếp hay gián tiếp, gọi là phí nhượng quyền. Định nghĩa này nhấn mạnh đến việc Bên nhượng quyền hỗ trợ và kiểm soát Bên nhận quyền trong hoạt động kinh doanh của mình. - Theo Hiệp hội NQTM Pháp, NQTM là một phương thức hợp tác giữa một bên là một doanh nghiệp (bên nhượng quyền) và một bên khác là một hay nhiều doanh nghiệp (bên nhận quyền) để khai thác một đối tượng của NQTM do người nhượng quyền triển khai. Đối tượng nhượng quyền gồm 3 yếu tố: quyền sở hữu và quyền sử dụng các dấu hiệu tập hợp khách hàng (biển hiệu, nhãn hiệu, tên thương mại, logo…), việc sử dụng kinh nghiệm hay bí quyết kinh doanh, một tập hợp các sản phẩm và/hoặc dịch vụ và/hoặc công nghệ.
Trên cơ sở đối tượng nhượng quyền này, bên nhượng quyền là người xây dựng một “hệ thống NQTM” mà anh ta có trách nhiệm đảm bảo sự tồn tại và phát triển lâu dài của nó. - Theo Bộ quy chế của Châu Âu về NQTM do Hiệp hội Châu Âu về NQTM ban hành có hiệu lực từ 1/1/1992: “NQTM được định nghĩa là một hệ thống thương mại hóa các sản phẩm và/hoặc dịch vụ và/hoặc các công nghệ, được xây dựng dựa trên mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và liên tục về mặt pháp lý và tài chính giữa các doanh nghiệp khác nhau và hoạt động độc lập với nhau, giữa một bên là người nhượng quyền và một bên là những người nhận quyền, trong đó người nhượng quyền chấp nhận cho những người nhận quyền quyền và nghĩa vụ khai thác kinh doanh đối tượng nhượng quyền của người nhượng quyền. Đối tượng nhượng quyền là sự kết hợp của 3 yếu tố: • Quyền sở hữu hay quyền sử dụng các tín hiệu tập hợp khách hàng: như nhãn hiệu sản xuất, kinh doanh hàng hóa hay dịch vụ, biển hiệu, tên pháp lý, tên thương mại, các ký hiệu và biểu tượng, logo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 21 • Sử dụng kinh nghiệm hay một bí quyết kinh doanh • Một nhóm các sản phẩm, dịch vụ và/hoặc công nghệ đã được hoặc chưa được đăng ký.
Quyền nhượng quyền như vậy cho phép và bắt buộc người nhận NQTM, khi đã đóng góp tài chính một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, sử dụng biển hiệu và/hoặc nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ, bí quyết kinh doanh, các phương pháp kinh doanh và kỹ thuật, các thủ tục và các quyền sở hữu trí tuệ khác, được hỗ trợ liên tục về mặt kinh doanh và/hoặc kỹ thuật trong phạm vi và thời hạn của hợp đồng NQTM được ký kết giữa hai bên. Định nghĩa này nhấn mạnh đến quyền của Bên nhận, ghi nhận vai trò của thương hiệu, bí quyết kinh doanh của bên nhượng quyền nhưng không đề cập đến những đặc điểm khác của việc NQTM như chi phí. - Theo Điều 284, Mục 8 của Luật Thương mại Việt Nam sửa đổi năm 2005 thì NQTM là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: (1) Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; (2) Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh. Những định nghĩa trên đây về NQTM đều có đặc điểm chung là một bên độc lập (bên nhận quyền) được phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hóa hay các đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ, và hệ thống kinh doanh đồng bộ do một bên khác (bên nhượng quyền) phát triển và sở hữu trên cơ sở trả một khoản phí cho bên nhượng quyền và chấp nhận một số điều kiện do bên nhượng quyền quy định.
Tóm lại, NQTM là một quan hệ kinh doanh toàn diện và liên tục, bao gồm không chỉ sản phẩm và/hoặc dịch vụ, nhãn hiệu hàng hóa, khu vực địa lý kinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 22 doanh mà còn toàn bộ hệ thống và mô hình kinh doanh (quy trình hoạt động, tài liệu hướng dẫn, công nghệ, đào tạo, giám sát tổ chức, quản lý chất lượng, trợ giúp hỗ trợ ban đầu và trong suốt quá trình hoạt động…). Trong đó, bên nhượng quyền (franchisor) sẽ chuyển mô hình kinh doanh, nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ, bí quyết kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo cho bên nhận quyền (franchisee). Bên nhận quyền sau khi ký hợp đồng nhượng quyền (uniform franchise offering circular-UFOC) được phép khai thác kinh doanh trên một không gian địa lý nhất định và phải trả một khoản phí nhượng quyền và tỷ lệ phần trăm doanh thu định kỳ cho bên nhượng quyền trong một khoảng thời gian nhất định. Chi tiết hơn, người nhận quyền sẽ được thừa hưởng những quyền chủ yếu sau: 1.
Quyền phân phối: Người nhận quyền ký hợp đồng nhượng quyền là để mua quyền phân phối sản phẩm trong một phạm vi lãnh thổ nhất định.