CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm của phân tích hoạt động kinh doanh Hoạt động kinh doanh là hoạt động tạo ra doanh thu và lợi nhuận chủ yếu cho doanh nghiệp. Với mục đích kiếm lời, các doanh nghiệp thuộc các loại hình và các hình thức sở hữu khác nhau hoạt động trong bất kì lĩnh vực nào cũng đều tiến hành các hoạt động kinh doanh [4].
Phân tích kinh doanh là thuật ngữ sử dụng để chỉ quá trình nghiên cứu toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp với mục đích sinh lời [10]. Trong đó, phân tích hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành sự vật hiện tượng đó [2]. Vì vậy, phân tích hoạt động kinh doanh là việc phân chia các hoạt động, các hiện tượng, các quá trình và kết quả kinh doanh ra thành các bộ phận cấu thành rồi dùng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra bản chất, tính quy luật và xu hướng vận động, phát triển của hiện tượng, quá trình nghiên cứu; tính toán, truyền đạt và xác định yêu cầu cho việc thay đổi quá trình kinh doanh, chính sách kinh doanh và hệ thống thông tin. Phân tích hoạt động kinh doanh góp phần giúp hiểu được các vấn đề kinh doanh và cơ hội kinh doanh, trong đó chứa đựng các yêu cầu cụ thể, cần thiết và đề xuất các giải pháp khả thi để đạt được mục đích kinh doanh.
Nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh Nhiệm vụ của phân tích hoạt động kinh doanh bao gồm: Kiểm tra và đánh giá hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kinh tế đã xây dựng. Xác định nhân tố ảnh hưởng của các chỉ tiêu và nguyên nhân gây ra mức độ ảnh hưởng đó. 4 Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác tiềm năng và khắc phục những yếu kém trong quá trình hoạt động kinh doanh. Xây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào mục tiêu đã đề ra.
Nếu kiểm tra và đánh giá đúng sẽ giúp điều chỉnh kế hoạch kịp thời và phù hợp, để đưa ra các giải pháp trong tương lai. Nhiệm vụ của nhà phân tích hoạt động kinh doanh là nhằm xác định và giải quyết các vấn đề kinh doanh, qua đó dẫn tới sự thay đổi: thay đổi trong quy trình kinh doanh, thay đổi hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ quy trình kinh doanh; thay đổi trong cách thức tổ chức hoạt động kinh doanh. Kết quả của phân tích hoạt động kinh doanh đều dẫn đến một số thay đổi đối với tổ chức thông qua việc thực hiện một chuỗi quy trình hoặc hoạt động mới để giải quyết một vấn đề kinh doanh [35]. Phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ cần thiết đối với các nhà quản trị bên trong doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp.
Khi đối tượng bên ngoài doanh nghiệp muốn quan hệ đối với doanh nghiệp như hợp tác, đầu tư, cho vay. thì thông tin về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một đòi hỏi chính đáng có nghĩa đối với quyết định của họ. Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về kinh tế- xã hội, sự đa dạng của các thành phần kinh tế trong thị trường dược phẩm đã làm cho hoạt động kinh doanh ngày càng phong phú và phức tạp. Để đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh, các doanh nghiệp cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh.
Vì vậy, việc phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đề cần thiết [10]. Phân tích kinh doanh thường hệ thống các phương pháp dùng để đánh giá hệ thống chỉ tiêu kinh tế đã xây dựng. Các đối tượng thường sử dụng các thông tin từ phân tích hoạt động kinh doanh bao gồm: - Các nhà đầu tư vốn 5 - Các nhà tổ chức tín dụng, nhà cung cấp - Các cơ quan chức năng của nhà nước - Nhà quản trị doanh nghiệp - Cán bộ công nhân viên doanh nghiệp - Công ty kiểm toán Phân tích hoạt động kinh doanh còn là cơ sở kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính và hoạt động quản lí của mọi cấp quản trị. Thông qua việc phân tích sẽ góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính thúc đẩy hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp phát triển [13], [5].
Từ những ý nghĩa trên, ta thấy phân tích kinh doanh có vai trò rất quan trọng đối với mọi nhà quản trị trong nền kinh tế thị trường có quan hệ mật thiết với nhau. Đó là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, đánh giá các điểm mạnh điểm yếu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó phát hiện ra các nguyên nhân khách quan, chủ quan giúp cho nhà quản trị lựa chọn và đưa ra các quyết định phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm. Do vậy, phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ đắc lực cho các nhà quản trị trong doanh nghiệp đạt kết quả và hiệu quả cao nhất [3], [13]. 6 Phân tích hoạt động kinh doanh Phát hiện Đánh giá Công cụ khả năng Đề phòng Cần thiết điểm cả tiến tiềm tàng rủi ro cho đối mạnh, quản lý trong môi trong tượng bên điểm yếu trong trường kinh ngoài hợp của doanh kinh kinh doanh tác nghiệp doanh doanh 1.
Đưa ra chiến lược phù hợp, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Hình 1. Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh 1. Các chỉ tiêu thường dùng trong phân tích hoạt động kinh doanh 1. Các chỉ tiêu kinh tế trong phân tích hoạt động kinh doanh Nội dung của phân tích kinh doanh là các kết quả kinh doanh biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế dưới sự tác động của các nhân tố kinh tế.
Như vậy chỉ tiêu kinh tế dùng để phân tích rất phong phú và đa dạng, có nhiều tiêu thức phân chia khác nhau: Theo tính chất của chỉ tiêu, bao gồm: Chỉ tiêu số lượng: Phản ánh qui mô của kết quả hay điều kiện kinh doanh như: doanh thu bán hàng, lượng vốn đầu tư, diện tích sản xuất, số lượng lao động. Trong đó doanh thu là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh 7 quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở một thời điểm cần phân tích. Chỉ tiêu chất lượng: Phản ánh hiệu quả kinh doanh hay hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào như: giá thành sản phẩm, tỷ suất lợi nhuận, hiệu quả sử dụng các tài sản, chi phí. Theo phương pháp tính toán trị số của chỉ tiêu, bao gồm: Chỉ tiêu kinh tế thể hiện trị số tuyệt đối: Dùng đánh giá qui mô sản xuất và kết quả sản xuất tại thời gian và không gian cụ thể như: doanh thu, giá trị sản lượng hàng hóa sản xuất, lượng lao động.
năm nay tăng bao nhiêu so với năm trước. Chỉ tiêu kinh tế thể hiện trị số tương đối: Thường dùng trong phân tích các quan hệ kinh tế. Giữa các bộ phận, cơ cấu của bộ phận trong tổng thể nghiên cứu, tốc độ tăng giảm của các chỉ tiêu nghiên cứu để biết xu hướng phát triển của chỉ tiêu, như chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch, tăng trưởng lợi nhuận, doanh thu… Chỉ tiêu kinh tế thể hiện trị số bình quân: Là dạng đặc biệt của chỉ tiêu tuyệt đối, nhằm phản ánh mức độ phổ biến của hiện tượng nghiên cứu như: năng suất bình quân của một lao động, thu nhập bình quân một lao động, chi phí bình quân một sản phẩm… Theo nội dung kinh tế của chỉ tiêu, bao gồm: Chỉ tiêu phản ánh các điều kiện của quá trình sản xuất như số lượng công nhân, vốn đầu tư, số máy móc thiết bị. Chỉ tiêu phản ánh các kết quả tài chính như lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA).
Theo ý nghĩa thông tin của chỉ tiêu, bao gồm: Chỉ tiêu phản ánh tại một thời điểm phân tích như các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán. 8 Chỉ tiêu phản ánh một thời kỳ như chỉ tiêu thuộc báo cáo kết quả kinh doanh, như lợi nhuận, doanh thu. Các chỉ tiêu thường dùng trong phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Cơ cấu danh mục nhóm hàng Phân tích cơ cấu danh mục nhóm hàng là một trong những mục tiêu quan trọng của phân tích hoạt động kinh doanh. Phân tích danh mục nhóm hàng nhằm xác định nhóm hàng có doanh thu lớn nhất, từ đó có chiến lược phù hợp có thể đưa vào sản xuất hoặc mở rộng hình thức kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho công ty và chủ động trong việc cung ứng cho thị trường.
Bên cạnh đó, việc phân tích cơ cấu danh mục cho phép xác định sản phẩm nào có số lượng bán ra lớn nhất, sản phẩm nào có số lượng bán ra ít nhất và đưa ra chiến lược thúc đẩy doanh số. Doanh thu Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu [4], [14]. Doanh thu là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở thời điểm cần phân tích, từ đó đưa ra các chiến lược phù hợp. Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm: - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là tổng giá trị hàng hóa và sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra trong kỳ.
- Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: là khoản doanh thu sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ như các khoản giảm giá hàng bán, chiết khấu, hàng bán bị trả lại, các khoản thuế… - Doanh thu hoạt động tài chính: là doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, tiền cổ tức, lợi nhuận và doanh thu từ hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp. 9 Chi phí Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gắn liền với thị trường và các yếu tố chi phí đầu vào, đầu ra nhằm đạt được tối đa lợi nhuận trong kinh doanh.