ĐẶT VẤN ĐỀ Bạch truật ( Atractylodes macrocephala koidz.) là một dược liệu quen thuộc mà dân gian đã lưu truyền từ lâu đời, được xem là phương thuốc bổ, bồi dưỡng năng lượng, chữa các bệnh về đường tiêu hóa. Theo y học cổ truyền bạch truật có công dụng chữa chán ăn, tiêu chảy, phân sống, đau dạ dày, bụng đầy chướng, nôn mửa, ăn chậm tiêu, viêm ruột mạn tính, an thai. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy tác dụng dược lý của bạch truật cũng như các hoạt chất có trong bạch truật rất phong phú, một số tác dụng đầy tiềm năng đã được chứng minh: tác dụng cải thiện tiêu hóa, tác dụng chống viêm, hoạt tính chống khối u, tác dụng chống lão hóa- chống oxy hóa, điều hòa miễn dịch, hạ đường huyết, chống loãng xương, bảo vệ thần kinh[6], [7], [14], [19], [25], [29], [44], [49], [59]. Với nhiều tác dụng quý báu , ngày nay bạch truật được sử dụng rộng rãi trên thị trường.
Nguồn nguyên liệu bạch truật một phần được trồng tại Việt nam, phần lớn được nhập từ trung Quốc với chất lượng chưa được kiểm soát. Do đó xuất hiện tình trạng dược liệu bạch truật lưu thông trên thị trường thường bị giả mạo hoặc không đạt yêu cầu về chất lượng. Điều này dẫn tới hậu quả là ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng, và lâu ngày dẫn tới sự mất niềm tin của người dân vào thuốc y học cổ truyền. Vì vậy, công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng dược liệu bạch truật là rất quan trọng.
Ở Việt Nam, việc đánh giá chất lượng dược liệu bạch truật còn gặp nhiều khó khăn do Dược điển Việt Nam V chưa quy định phương pháp định lượng bạch truật do đó không đáp ứng được yêu cầu kiểm tra đánh giá chất lượng bạch truật trên thị trường. Mặt khác, trong nước chưa có nghiên cứu nào đánh giá hàm lượng các sesquiterpen trong bạch truật. Trong bạch truật các hợp chất sesquiterpenoid như atractylon, atractylenolid I, II và III có nhiều tác dụng quý giá [30]. Do hàm lượng atractylenolid I và II rất nhỏ nên nghiên cứu hiện tại tập trung đánh giá hàm lượng atractylenolid III.
Hơn nữa atractylenolid III đã được chứng minh có nhiều tác dụng sinh học quan trọng và là một hợp chất tiềm năng trong tương lai. Atractylenolid III có nhiều tác dụng: chống loét dạ dày, cải thiện tiêu hóa, chống viêm, chống khối u, điều hòa miễn dịch…[23], [24], [27], [57], [58]. Vì vậy chúng tôi nhận thấy atractylenolid III là một thành phần quan trọng trong việc đánh giá chất lượng bạch truật, cần được sử dụng làm “maker” trong kiểm nghiệm chất lượng dược liệu bạch truật. Từ những thực tiễn trên, nhằm xây dựng một phương pháp đánh giá chính xác hàm lượng Atractylenolide III trong bạch truật, phù hợp để áp dụng rộng rãi ở các đơn vị kiểm nghiệm và sản xuất, gợi ý cho việc nâng cấp chuyên luận bạch truật trong DĐVN.
chúng tôi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu xây dựng phương pháp định lượng atractylenoide III trong dược liệu bạch truật Rhizoma atractylodes macrocephala trồng tại Việt Nam. “với hai mục tiêu sau: - Xây dựng phương pháp định lượng Atractylenolid III trong thân rễ bạch truật bằng - Áp dụng phương pháp phân tích cho một số mẫu bạch truật trên thị trường.Tổng quan về Bạch Truật (Atractylodes macrocephala Koidz.Vị trí phân loại Bạch truật còn gọi là ư truật, đông truật, triết truật….Tên khoa học là Atractylodes macrocephala Koiz. Tên đồng nghĩa: Atractylis ovata Thunb., Atractylis macrocephala (Koidz. Tên nước ngoài : Large- hesded atractylodes (Anh).
Chữ macrocephae có nghĩa là đầu to, ý nói cụm hoa hình đầu mà lại to[1], [6]. Theo phân loại thực vật học Bạch Truật thuộc chi Thương truật (Atractylodes ), họ Cúc (Asteracea), bộ Cúc (Asterales), phân lớp Cúc (Asteridae), lớp Ngọc Lan (Magnoliospida), ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) , giới Thực vật [2]. Đặc điểm thực vật và phân bố Bạch Truật là cây thảo sống nhiều năm (1-2 năm), cao 40-60 cm. Rễ củ mập, có vỏ ngoài màu vàng xám.
Thân hình trụ, mọc đứng, phía trên phân nhánh, phần dưới hóa gỗ. Lá mọc so le, lá phía dưới có cuống dài, xẻ sâu thành 3 thùy (ít khi 5) như những lá chét riêng biệt, thùy giữa to hơn, hình bầu dục hoặc hình trứng, gốc lệch, đầu nhọn, mép có răng cưa như gai; gân lá nổi rất rõ ở mặt dưới. Lá có phiến hình bầu dục- thuôn, dài 4,5-7cm, rộng 1,5-2cm, xẻ lông chim, mỗi bên có 1-2 đôi hình trứng ngược, phiến xẻ ở đỉnh lớn hơn các phiến ở bên; lá gần cụm hoa có cuống ngắn, không chia thùy. Cụm hoa đầu, đơn độc ở ngọn, trên cuống dài 2-6cm.
Tổng bao hình chuông rộng, đường kính 3-4 cm, gồm 9-10 hàng lá bắc. Tràng hoa hình ống, màu tím hồng, đầu loe ra và xẻ sâu thành 5 thùy hình dải, 5 nhị (trong những hoa cái ở phía ngoài của cụm hoa có nhị thoái hóa), hàn liền. Quả bế hình cầu hoặc bầu dục, hình chùy dài 7,5mm, hơi dẹt vỏ phủ chùm lông dài trắng; mào lông dạng lông chim dài 15mm, màu trắng đục, gốc dỉnh hợp thành vòng. Mùa hoa quả : tháng 8-11.
Còn có loài thương truật hay mao truật- Atractylodes lancea (Thunb., khác bạch Truật ở chỗ thân ít phân nhánh. Cụm hoa nhỏ và gầy hơn. Hoa màu trắng tím hay tím nhạt [1], [5], [6]. Bạch truật- Atractylodes macrocephala Koidz.
Bạch Truật vốn là cây mọc tự nhiên ở vùng Ư Thế (tỉnh Triết Giang) và một vài nơi khác ở Trung Quốc. Cây đã được thuần hóa và trồng trọt từ lâu. Do tác động của quá trình chọn giống và điều kiện tự nhiên nơi trồng khác nhau, một số giống bạch truật được tạo nên cũng khác nhau như: Bạch Truật Ư Thế, Huy Truật ( Bạch truật trồng ở tình An Huy) hoặc Hoàng Sơn truật , Tiên cư truật và Hạc hình truật.Hiện nay, bạch truật được trồng ở nhiều địa phương thuộc tỉnh Triết Giang, An Huy, Hồ Nam, Phúc Kiến, Tứ Xuyên. (ở Trung Quốc) cây cũng được trồng ở Nhật Bản và Triều Tiên.
Bạch Truật được nhập trồng vào Việt nam khoảng năm 1960. Lúc đầu trồng thử ở trại thuốc SaPa (Viện dược liệu), sau đưa sang huyện Bắc Hà (tỉnh Lào Cai) đều thấy phát triển tốt. Đến đầu những năm 1970, cây mới được đưa về trồng ở vùng ngoại thành Hà Nội và các tỉnh lân cận. Bạch truật là cây sống ưa ẩm và ưa vùng có khí hậu á nhiệt đới núi cao, như SaPa, Bắc Hà, (Lào Cai) và Sìn Hồ (Lai Châu).
Cây trồng ở đây sinh trưởng phát triển mạnh, ra hoa quả nhiều và chất lượng hạt giống tốt. Vì thế, tất cả các nơi khác (ở đồng bằng và trung du bắc bộ) nếu có trồng bạch truật vẫn phải lấy hạt giống từ các vùng kể trên. Mặc dù vậy, cây trồng ở vùng đồng bằng thấy sớm ra hoa quả hơn cây trồng ở vùng núi cao. Đến mùa đông, toàn bộ phần trên mặt đất bị tàn lụi, phần củ dưới mặt đất có thể sống qua mùa đông.
Cây chịu được với điều kiện khí hậu lạnh, có khi tới 0°C hoặc thấp hơn [6]. Trồng bằng hạt vào tháng giêng hoặc tháng 3, hoặc tháng 9-10 ở vùng núi và từ tháng 10 đến đầu tháng 11 ở đồng bằng. Trồng 2 năm thì có thể thu hoạch dược liệu; nhưng trồng ở đồng bằng chỉ cần 8-10 tháng [5]. Ở nhiều vùng, rễ cây thổ tam thất- Gynura pinnatifida DC.
cùng họ, được dùng thay thế với tên bạch truật nam [6]. Bộ phận dùng Dược liệu Bạch Truật (Rhizoma Atractylodis macrocephalae) là thân rễ phơi hay sấy khô của cây bạch truật (Atractylodes macrocephala Koidz. Rễ củ thu hoạch vào tháng 6-7 (ở đồng bằng) và tháng 12 (ở miền múi). Thời vụ thu hái tốt nhất là khi lá ở gốc cây đã úa vàng, thân tàn lụi.
Rễ củ đào về, cắt bỏ rễ con, rửa sạch, sấy diêm sinh 12h rồi phơi khô, phân loại củ to, củ nhỏ. Dược liệu bạch truật có thể chất cứng chắc, vỏ có màu nâu, ruột trắng ngà có mùi thơm nhẹ là loại tốt. Dược liệu cần được bảo quản trong thùng kín, chống mối mọt. Khi dùng đắp nước vào khăn, ủ rễ cho mềm rồi thái thành từng miếng.
Tùy theo cách sử dụng mà có những cách chế biến khác nhau: +Dùng sống: sắc hoặc tán thành bột sống. +Sao cháy: sao cho dến khi dược liệu cháy đen lấy ra phun nước cho tắt hết lửa than. +Tẩm mật ong loãng: sao cho đến vàng và có mùi thơm. +Tẩm hoàng thổ sao: lấy hoàng thổ, tán bột, sao nóng, cho dược liệu vào rồi đảo đều cho hoàng thổ dính vào dược liệu rồi sàng bỏ hoàng thổ thừa.
+Tẩm hay phun rượu rồi sao với cám (dùng chữa bệnh phổi). Lối sao này ít dùng ở Việt Nam, nhưng Trung Quốc hay dùng gọi là phù bì sao bạch truật [1]. +Tẩm sữa rồi sao (chữa bệnh thận) +Tẩm nước đất rồi sao (chữa bệnh về tỳ vị) [4]. Dược liệu bạch truật – Atractylodes macrocephala Koidz.
Thành phần hóa học Trong thành phần hóa học nổi bật của Bạch Truật có nhiều nhóm chất chính như : Sesquiterpenoid, triterpenoid, polyacetylen, coumarin và phenylpropanoid, flavonoid và flavonoid glycosid, steroid, benzoquinon và các loại khác. Ngoài ra, polysacarit đã được phân lập từ rễ và thân rễ AM (Atractylodes macrocephala), bao gồm YY13008,PAM, WAM, PSAM-1, PSAM-2 và AMP [54]. Các sesquiterpenoid, polyacetylen và polysacarit là thành phần hóa học quyết định cho nhiều hoạt tính có giá trị của bạch truật như chống OXH, chống khối u, chống ung thư, chống viêm, tác dụng chống loét dạ dày. Ngoài ra các hợp chất khác như flavonoid, coumarin, triterpenoid.
với nhiều tác dụng sinh học đáng chú ý cũng góp phần bổ trợ thêm tác dụng của các hoạt chất chính. Trong rễ củ bạch truật chứa 1,4% tinh dầu. Thành phần của tinh dầu chủ yếu gồm: atractylol, acetoxy atractylon, hydroxyatractylon, atractylat kali. Các sesquiterpen: α-eudesmol, β-eudesmol.
Các dẫn chất lacton như atractylenolid I,II,III. Từ phân đoạn ái dầu của bạch truật người ta tách được Juniper camphor [6].3: Juniper camphor Bảng 1.