CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH 1. Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là điều kiện không thể thiếu, nó phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh.Trong sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp người ta chú ý đến việc quản lý việc huy động và luân chuyển của vốn. Vậy vốn kinh doanh là gì? Theo giáo trình Tài chính Doanh nghiệp của trường Đại học Thương mại: Vốn kinh doanh của DN là toàn bộ lượng tiền cần thiết để bắt đầu và duy trì các hoạt động kinh doanh của DN.
Hay có thể nói: Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của giá trị toàn bộ tài sản hiện có của DN. ( Nguồn trích dẫn: Giáo trình tài chính doanh nghiệp thương mại – PGS.TS Đinh Văn Sơn - Đại Học Thương Mại, Nxb Thống kê, 2007 – Trang 16 ) Trong cuốn “ Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp vừa và nhỏ” của TS. Đàm Văn Huệ, nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân 2006, viết: “ Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là số tiền ứng trước để thỏa mãn các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Các yếu tố đầu vào thông thường gồm các tài sản hữu hình và tài sản vô hình phục vụ cho sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích kiếm lời”.
Phân loại vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Có nhiều cách phân loại vốn, tùy thuộc vào những góc độ khác nhau mà ta có các cách phân loại vốn khác nhau: 1.Phân loại VKD căn cứ vào thời gian luân chuyển của vốn: Phân loại theo tiêu thức này thì vốn kinh doanh bao gồm 2 loại : Vốn cố định và vốn lưu động. - Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản dài hạn. Kết cấu VCĐ gồm: giá trị của TSCĐ, bất động sản đầu tư, đầu tư tài chính dài hạn, tài sản dài hạn khác. VCĐ có đặc điểm là thời gian luân chuyển kéo dài từ một năm trở lên.
Sự luân 6 Luan van chuyển này phụ thuộc vào chính quá trình khai thác, sử dụng và bảo quản các tài sản dài hạn cũng như các chính sách tài chính có liên quan của doanh nghiệp. - Vốn lưu động : Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động. Đây là bộ phận vốn góp phần tạo ra những yếu tố tài sản ngắn hạn phục vụ thường xuyên cho kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn lưu động có đặc điểm là thời hạn luân chuyển thường là trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Sự luân chuyển này phụ thuộc vào quá trình khai thác, sử dụng và bảo quản từng bộ phận tài sản ngắn hạn cũng như các chính sách tài chính có liên quan của doanh nghiệp. Ý nghĩa của việc phân loại theo tiêu thức này: giúp doanh nghiệp thấy được tỷ trọng, cơ cấu của từng loại vốn trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp mình từ đó có thể lựa chọn một cơ cấu vốn phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. ( Trang 17 giáo trình Tài chính doanh nghiệp thương mại – PGS.TS Đinh Văn Sơn - Đại Học Thương Mại, Nxb Thống kê 2007) 1.Phân loại vốn kinh doanh theo nguồn hình thành của vốn: Theo cách phân loại này thì VKD gồm: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. - Nợ phải trả: là nguồn VKD được huy động từ các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân ngoài chủ sở hữu mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải trả.
(trang 192 giáo trình Phân tích kinh tế doanh nghiệp thương mại – PGS.TS Trần Thế Dũng - ĐH Thương mại 2008). - Vốn chủ sở hữu: là nguồn VKD được đầu tư từ các chủ doanh nghiệp. Nguồn vốn chủ sở hữu doanh nghiệp hoàn toàn có quyền chủ động sử dụng vào mục đích kinh doanh, không phải thanh toán, hoàn trả như nguồn vốn nợ phải trả ( trừ khi có quyết định rút vốn của chủ sở hữu ). ( trang 201-202 giáo trình Phân tích kinh tế doanh nghiệp thương mại – PGS.TS Trần Thế Dũng – ĐH Thương mại 2008).Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn : Theo cách phân loại này thì nguồn vốn của DN bao gồm: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
- Nguồn vốn thường xuyên: gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn. Đây là nguồn vốn mang tính ổn định và dài hạn mà DN có thể sử dụng để đầu tư mua sắm TSCĐ và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. 7 Luan van - Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà DN có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn có tính chất tạm thời, phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, gồm: các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác. Việc phân loại theo tiêu thức này giúp cho người quản lý DN xem xét huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho DN, hình thành các kế hoạch về tổ chức các nguồn vốn trên cơ sở xác định quy mô vốn cần thiết, lựa chọn nguồn vốn và qui mô thích hợp cho từng nguồn vốn nhằm tổ chức sử dụng hợp lý và có hiệu quả.
(Giáo trình tài chính doanh nghiệp thương mại – PGS.TS Đinh Văn Sơn - Đại Học Thương Mại, Nxb Thống kê, 2007 – trang 64 ) 1. Phân loại theo phạm vi huy động và sử dụng vốn - Nguồn vốn trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động được từ hoạt động bản thân của doanh nghiệp như: Tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận giữ lại, các khoản dự trữ, dự phòng, khoản thu từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ… - Nguồn vốn ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh như: Vay ngân hàng, vay của các tổ chức kinh tế khác, vay của các nhân viên trong công ty, vay cá nhân… Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể có các nguồn vốn khác như: nguồn vốn FDI, ODA…thông qua việc thu hút các nguồn vốn này, các doanh nghiệp có thể tăng vốn đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò, ý nghĩa của vốn kinh doanh Vốn có vai trò và ý nghĩa to lớn không những đối với quá trình hình thành doanh nghiệp mà nó còn có vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hình thành doanh nghiệp, nguồn vốn ban đầu có ý nghĩa về mặt pháp lý nhằm đảm bảo đủ điều kiện cho một doanh nghiệp được phép thành lập và đi vào hoạt động, và vốn ban đầu cũng là nguồn vốn để đầu tư mua sắm trang thiết bị, nhà xưởng sản xuất, thuê nhân công và các điều kiện khác để tiến hành sản xuất.
8 Luan van Trong quá trình phát triển của doanh nghiệp, nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng ðối với sự tồn tại của doanh nghiệp. Bên cạnh đó vốn còn quyết định đến năng lực cạnh tranh lành mạnh của doanh nghiệp trên thị trường cạnh tranh sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Ngoài ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, quan hệ bạn hàng, kêu gọi vốn đầu tư, thì điều mà nhà đầu tư quan tâm nhất là số vốn của doanh nghiệp và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, vấn đề quản lý và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả cao nhất cũng rất quan trọng đối với sự phát triển của một doanh nghiệp.
Bố trí, cân đối tỷ trọng giữa vốn cố định và vốn lưu động đảm bảo cho doanh nghiệp đủ nguồn vốn lưu động để khai thác sử dụng hết năng lực sản xuất của vốn cố định và các tài sản khác thuộc nguồn vốn cố định. Như vậy sử dụng và khai thác nguồn vốn có hiệu quả có ý nghĩa bảo toàn và phát triển nguồn vốn sản xuất kinh doanh, nâng cao toàn bộ hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận và đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp, cho năng lực cạnh tranh trên thị trường.Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ● Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là gì? Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác sử dụng vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời tối đa với chi phí thấp nhất. Hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề phức tạp có liên quan tới tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh cho nên doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả trên cơ sở sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả.
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh được xác định bằng công thức: Kết quả từ hoạt động kinh doanh HQ sử dụng VKD = Vốn kinh doanh bình quân 1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng VKD bình quân 9 Luan van 1. Hệ số doanh thu trên VKD bình quân \\ Trong đó: : Hệ số doanh thu trên vốn kinh doanh.
M: Doanh thu bán hàng trong kì. : Vốn kinh doanh bình quân. Chỉ tiêu này phản ánh sức sản xuất, khả năng tạo ra doanh thu của đồng vốn.2, Hệ số lợi nhuận trên VKD Trong đó: : Hệ số lợi nhuận trên vốn kinh doanh. P: Lợi nhuận kinh doanh đạt được trong kì.
Vốn kinh doanh được tính theo 2 phương pháp: - Phương pháp giản đơn: Trong đó: : vốn kinh doanh đầu kỳ, cuối kỳ. - Phương pháp bình quân gia quyền: Ttrong đó: VKD bình quân phản ánh toàn bộ giá trị giá vốn kinh doanh bình quân mà doanh nghiệp sử dụng vào hoạt động kinh doanh trong kỳ. đến là số VKD tại các thời điểm được xác định trong kỳ phân tích. n là số thời điểm trong kỳ phân tích.2, Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động 1.
Hệ số doanh thu trên vốn lưu động: cho biết trong kỳ kinh doanh mõi đồng VLĐ tham gia mang lại bao nhiêu đồng doanh thu cho doanh nghiệp.