phần mở đầu, kết luận, bảng biểu và danh muc̣ tài liêụ tham khảo , nôị dung luâṇ văn đƣơc̣ kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả quản lý tài sản tại doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý tài sản tại Công ty CP Thƣơng mại và Tƣ vấn Tân Cơ. Chƣơng 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài sản tại Công ty CP Thƣơng mại và Tƣ vấn Tân Cơ.
5 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Nâng cao hiệu quả quản lý tài sản trong các doanh nghiệp luôn là vấn đề then chốt trong quá trình quản lý và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp hiện nay. Đề tài phân tích hiệu quả quản lý tài sản của doanh nghiệp cho đến nay đã đƣợc nghiên cứu rất nhiều và đi theo nhiều phƣơng pháp khác nhau.Tổng quan nghiên cứu nước ngoài về hiệu quả quản lý tài sản Bài báo cáo “ Phân tích quản lý tài sản và ý nghĩa của chúng đối với lợi nhuận của doanh nghiệp” của Silviu valentin Cârstina (2014), Khoa kinh tế Đại học Kinh doanh của Đại học Craiova. Tác giả cho rằng tài sản của doanh nghiệp ngay từ đầu đã trở thành phƣơng tiện chính đề làm ra doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Đó là mục tiêu của quản lý tài sản mà nhà lãnh đạo nào cũng hƣớng tới.Những lợi ích trong tƣơng lai phụ thuộc vào quy mô tài sản và cách thức quản lý tài sản của công ty.Nói cách khác, quản lý tài sản là một yếu tố chính ảnh hƣởng đến lợi nhuận. Thông qua bài viết, việc sử dụng các mô hình phân tích nhƣ CAMP,mô hình thực hiện dƣới dạng biến phụ thuộc tổng doanh thu và lợi nhuận, kết hợp với phân tích các chỉ tiêu dựa trên báo cáo tài chính về tình hình tài sản, cùng những dự báo về xu hƣớng biến động trong tƣơng lai, tác giả đã đƣa ra kết luận cuối cùng về sự tồn tại của mối tƣơng quan giữa các chỉ tiêu về khả năng sinh lời và quản lý tài sản của doanh nghiệp. Chứng minh rằng không chỉ về mặt thống kê toán học, mà cách thức quản lý tài sản cũng đƣợc đánh giá nhƣ một phƣơng tiện làm tăng lợi nhuận kinh doanh. Số đăng trên Tạp chí Tracet ngày 9 tháng 11 năm 2016 nêu lên “8 cách quản lý tài sản cố định có hiệu quả”.
Cụ thể: Theo dõi tài sản cố định đối với các doanh nghiệp có nhiều tài sản là việc rất quan trọng, nhằm giữ an toàn và hiệu quả cho doanh nghiệp. Duy trì cập nhật thông tin về tài sản bằng cách bảo quản, bảo hiểm, theo dõi quá trình sử dụng của tài sản cố định. Quản lý vòng đời của tài sản với phƣơng thức kiểm toán mạnh mẽ , theo dõi và hạch toán tài sản cố định trong suốt 6 vòng đời của chúng. Điều này giúp cải thiện chu trình “cuộc sống” của tài sản, cho phép theo dõi lịch sử sử dụng của tài sản và lập kế hoạch cho việc bảo trì, thanh lý tài sản.
Gắn thẻ tài sản vật chất và tiến hành kiểm tra tài sản vật chất để đảm bảo sự tồn tại của tài sản, xác định tài sản ma, đánh giá chính xác giá trị tài sản cố định trên toàn bộ tài sản của doanh nghiệp.Đáp ứng các yêu cầu và hợp nhất thông tin, tính khấu hao chính xác, kiểm tra sự suy giảm của tài sản. Phân tích tài sản và giám sát lợi tức đầu tƣ của tài sản (ROI). Mariotti và Glackin Caroline (2012) đã đề cập đến các chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng từng loại tài sản trong doanh nghiệp, đồng thời phân tích các điểm mạnh, điểm yếu và giải pháp trong việc sử dụng tài sản của các doanh nghiệp nhỏ trong cuốn Entrepreneurship Small Business Management. Bài đăng tháng 09 năm 2013 trên Service Works của Gary Watkins, CEO của Service Works đã thảo luận về tầm quan trọng và lợi ích của việc có một chiến lƣợc quản lý tài sản toàn diện.
Trong bài viết của mình, tác giả khẳng định chiến lƣợc quản lý tài sản tốt có thể tối ƣu hóa hoạt động kinh doanh, giảm thiểu chi phí và hỗ trợ các mục tiêu trong tƣơng lai của công ty. Tác giả nêu lên 4 giai đoạn của “cuộc sống tài sản”: từ khâu hoạch định, ra quyết định đầu tƣ đến khâu sử dụng, bảo trì và xử lý tài sản. Giai đoạn lập kế hoạch đầu tƣ, ở mức cơ bản nhất, lập đƣợc một kế hoạch tài sản tốt giúp doanh nghiệp quyết định liệu có thực sự cần thiết phải đầu tƣ cho mặt hàng đó không, những thành công đƣợc dự báo hoặc những rủi ro tiềm ẩn khi đầu tƣ cho loại tài san đó. Khi ra quyết định đầu tƣ và đƣa tài sản vào hoạt động, đây là giai đoạn dài và hữu ích nhất của tài sản, mọi thay đổi của tài sản sẽ đƣợc ghi lại (khấu hao, giá trị còn lại…).
Trong giai đoạn này, doanh nghiệp cần thực hiện kiểm tra, đánh giá lại tài sản và lập kế hoạch kinh doanh liên tục theo nhu cầu thay đổi của tài sản. Giai đoạn bảo trì và xử lý tài sản chủ yếu để doanh nghiệp chủ động hơn trong công tác quản lý tài sản.Việc đƣa tài sản vào một phần mềm sẽ là công cụ giúp doanh nghiệp quản lý toàn bộ quy trình quản lý tài sản.Bernstein (2011) nghiên cứu về các nội dung liên quan đến phân tích các loại báo cáo tài chính, trong đó cũng phân tích các chỉ số về hiệu quả sử dụng tài sản, các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng tài sản. 7 Luận văn thạc sĩ của Kallevåg, Per Hillesøy (2015) nghiên cứu về cách thức quản lý tài sản và bảo dƣỡng dựa trên điều kiện có thể cải thiện việc sử dụng các tài sản có liên quan đến ngành công nghiệp O & G trên NCS. Trong bài viết của mình, tác giả đã giới thiệu về thuật ngữ “quản lý tài sản”, xây dựng một mô hình về quản lý tài sản để làm nổi bật nội dung đang nghiên cứu, nêu lên mối quan hệ giữa hệ thống tài sản và công tác quản lý tài sản.
Trong bối cảnh hiện nay, các yếu tố của hệ thống quản lý tài sản đƣợc xem nhƣ một tập hợp các công cụ, bao gồm các chính sách, kế hoạch, quy trình kinh doanh và hệ thống thông tin đƣợc tích hợp để đảm bảo rằng các hoạt động quản lý tài sản sẽ đƣợc thực hiện. Trong nhiều trƣờng hợp, các tài sản khác nhau trong hệ thống tài sản có thể sẽ ảnh hƣởng lẫn nhau và chúng cũng có thể ảnh hƣởng đến các đơn vị chức năng khác thông qua nhiêu cách khác nhau. Tác giả đã nêu cụ thể các yếu tố chính của hệ thống quản lý tài sản nhƣ: bối cảnh tổ chức, khả năng lãnh đạo, lập kế hoạch kinh doanh và kiểm soát hoạt động quản lý tài sản. Một kế hoạch quản lý rõ rang phải nhận thức đƣợc những rủi ro có khả năng xuất hiện và cách giải quyết rủi ro ấy.
Shirley Reed (2015) đã trình bày tầm quan trọng của việc quản lý từng khoản mục tài sản nhƣ tiền mặt, hàng tồn kho, tài sản cố định đồng thời đƣa ra các chiến lƣợc quản lý vòng quay tài sản nhằm giảm chi phí vốn. Kevin Kaiser và S. Tổng quan nghiên cứu trong nước về hiệu quả quản lý tài sản Phân tích về hiệu quả quản lý tài sản của doanh nghiệp trong những năm quathu hút đƣợc khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nƣớc. Những nghiên cứu đó tập trung chủ yếu là: cơ sở lý luận chung về tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả quản lý tài sản trong các doanh nghiệp, đƣa ra những quan điểm và đề xuất riêng về 8 phƣơng hƣớng nâng cao hiệu quả quản lý tài sản thuộc các ngành, các thành phần khác nhau trong nền kinh tế.
Năm 2012, tác giả Phan Hồng Mai đã có nghiên cứu về “Quản lý tài sản tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam”, hệ thống hóa các lý luận cơ bản về quản lý tài sản tại doanh nghiệp xây dựng nói chung, trong đó tập trung làm rõ khái niệm “quản lý tài sản” và chi tiết các công việc cần giải quyết. Bằng các phƣơng pháp nghiên cứu định tính và định lƣợng, tác giả đã phân tích thực trạng quản lý tài sản tại các Công ty cổ phần ngành xây dựng đã niêm yết tại Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2010 qua các chỉ tiêu về quản lý tiền, quản lý các khoản phải thu, quản lý hàng tồn kho và quản lý tài sản cố định.Qua đó, tác giả đã có kết luận về các chỉ tiêu tài chính hiệu quả nhƣ năng lực thanh toán khá tốt, ROA bình quân ngành cao… Đồng thời tác giả cũng nêu lên những hạn chế điển hình trong quản lý tài sản của doanh nghiệp xây dựng nhƣ: kỳ thu tiền bình quân dài, hệ số sinh lời tài sản cố định nhỏ, một số chỉ tiêu có xu hƣớng giảm nhƣ ROA, khả năng thanh toán. Tác giả khuyến nghị những giải pháp tăng cƣờng quản lý tài sản tại các công ty cổ phần ngành niêm yết nhƣ sau:Ứng dụng mô hình Miller – Orr vào quản lý ngân quỹ; sử dụng kết hợp phần mềm trong quản lý và kế toán công nợ, hàng tồn kho và tài sản cố định. Tác giả đã khẳng định việc quản lý tài sản ngành xây dựng là công việc phức tạp, cần đƣợc tiến hành ngay từ lúc có nhu cầu về tài sản đến khi tài sản đó loại khỏi quá trình sản xuất – kinh doanh, hƣớng đến mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp.
Tác giả Đỗ Thùy Trang (2013) tập trung nghiên cứu về vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý tài sản tại Công ty cổ phần đầu tƣ và phát triển Cửu Long, doanh nghiệp kinh doanh ngành vận tải, một ngành khá mới mẻ trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, đồng thời thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm phần lớn trong nền kinh tế nƣớc ta.