ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Sự cần thiết của đề tài: Trong tiến trình CNH -HĐH hiện nay, nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp lương thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày và cung cấp nguyên liệu cho các ngành nghề sản xuất khác. Trong cơ cấu ngành nông nghiệp ngành thủy sản van được xem là ngành kinh tế mũi nhọn cụ thé ngành nuôi trồng thủy sắn đang được phổ biến rộng rải. Nghề nuôi tôm giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong xuất khẩu và đóng góp rất lớn trong kim ngạch xuất nhập khẩu toàn ngành. Nghề nuôi tôm ở Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng chủ yếu nuôi theo hình thức quảng canh nên năng suất thấp.
Hiện nay, nghề nnuôi tôm ở Việt Nam đang da triển da dạng dưới sự khuyến khích của đẳng và nhà nước. Vì vậy trong những năm gần đây, nghề nuôi tôm phát triển rất mạnh ở nhiều tỉnh ĐBSCL,' trong đó có huyện Can Đước mà chủ yếu nuôi tôm ở các xã thuộc vùng hạ huyện còn vùng thượng huyện chủ yếu trồng lúa và hoa màu. Trước đây, do đặc điểm ở vùng hạ huyện là vùng đất phèn mặn một năm chỉ trồng 1 vụ lúa vào mùa mưa. Tuy nhiên, do thời tiết bất thường diéu kiện tự nhiên không thuận lợi nên năng suất đạt kết quả rất thấp thậm chí có năm còn mất mùa trong khi con tôm sú đang có giá trị rất lớn trên thị trường và nhiễu người dân đã đưa nó vào như là đối tượng sản xuất chính của mình.
Nên nhiều xã thuộc vùng hạ huyện đã chuyển từ mô hình trồng lúa thuần sang trồng mô hình tôm - lúa. Mặc dù, nghề nuôi đang được phát triển mạnh mẽ và phổ biến rộng khắp đồng thời cũng dem lại lợi nhuận rất cao từng bước nâng cao đời sống của người dân ở huyện. Mặt khác, người nông dân phải đương đầu với nhiều khó khăn thử thách đó là chất lượng giống chưa được kiểm dịch, còn sử dụng nhiều thức ăn chế biến năng suất chưa cao và gặp nhiều rủi ro. Yếu tố quan trọng hàng dau cho việc phát triển nuôi tôm ở Việt Nam là hướng dẫn người dân và đào tạo cán bộ kỹ thuật nuôi tôm tiên tiến.
Hoạt động nuôi tôm sú đem lại lợi nhuận quá cao. Vì vậy hoạt động này: không những thu hút người dân trong vùng hạ huyện mà còn thu hút các vùng lân cận khác đến vùng để nuôi tôm một cách tự phát. Dé nâng cao được hiệu qua kinh tế hộ gia đình cần giúp đỡ người dân thấy được hiệu quả kinh tế của việc nuôi tôm st, nhưng đồng thời cũng xác định được phương hướng để tối ưu hóa các yếu tố đầu vào để đạt sản lượng và lợi nhuận tối đa. Hoạt động nuôi tôm sú đem lại lợi nhuận lớn nhưng cũng phải đương đầu với nhiều rủi ro.
Vì vậy, còn rất nhiều vấn để đặt ra là phải làm sao khắc phục những khó khăn đồng thời cũng phát huy những thuận lợi. Muốn được như vậy cần có những giải pháp thiét thực cho các nông hộ để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Để xác định được hiệu quả kinh tế và tối ưu hóa trong quá trình nuôi tôm sú nên chúng tôi tiến hành nghiến cứu dé tài: “ Phân Tích Hiệu Quả Và Tối Ưu Hóa Trong Quá Trình Nuôi Tôm Si Ở Các Xã Vùng Hạ Thuộc Huyện Cần Đước - Tỉnh Long An” 1.2Mục đích, ý nghĩa và nội dung nghiên cứu : 1.1 Mục đích nghiên cứu: - Nhằm tìm ra các yếu tố nào tác động nhiều đến năng suất nuôi tôm sú để có biện pháp nâng cao hiệu quả nuôi tôm. - So sánh kết quả và hiệu quả của nuôi tôm với sản xuất lúa để xem hiệu quả của việc chuyển đổi từ việc trồng lúa thuần sang mô hình tôm - lúa.
- So sánh kết quả và hiệu quả của nuôi tôm theo qui mô, mật độ khác nhau nhằm giúp cho người dân chọn được những qui mô, mật độ mà phù hợp với điều kiện của mỗi hộ gia đình cũng như phù hợp với vốn, kinh nghiệm nuôi, hình thức nud. -Tối da hóa sản lượng va lợi nhuận nhằm để đạt kết quả tối wu nhất khi sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình đầu tư san xuất. -Đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những rủi ro trong quá trình nuôi tôm để đạt hiệu quả kinh tế hơn.2 Ý nghĩa: Nghiên cứu dé tài nhằm giúp các nông hộ có hướng sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hợp lý nhất, sao cho đạt hiệu quả tối ưu nhất trong việc đầu tư của mình. Ngoài ra còn giúp các nông hộ thấy được hiệu quả của việc chuyển đổi từ trồng lúa thuần sang mô hình tôm - lúa và lựa chọn qui mô và mật nuôi phù hợp với điều kiện mỗi hộ gia đình: 1.3 Nội dung nghiên cứu: - Sơ lược tổng quan về các hộ điều tra - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất tôm sú.
- So sánh kết quả và hiệu quả giữa tôm và lúa. - Phân tích kết quả và hiệu quả nuôi tôm giữa các qui mô và các mật độ khác nhau. - Tối da hóa sản lượng và lợi nhuận có điều kiện. - Phân tích ma trận SWOT.
- Đưa ra các giải pháp cho quá trình nuôi tôm sú.3 Phạm vi nghiên cứu: 1.1 Phạm vi không gian: Điều tra ngẫu nhiên những nông hộ sản xuất theo mô hình tôm - lúa tại 3 © xã thuộc vùng hạ huyện Cần Đước, tỉnh Long An: xã Long Hựu Đông, xã Tân Chánh, xã Long Hựu Tây.2 Phạm vi thời gian: Dé tài được thực hiện từ ngày 15/2/2004 đến 15/6/2004 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trước khi nghiên cứu một vấn để về hiệu quả kinh tế của một quá trình san xuất nào đó ta không thể nói đến đối tượng nghiên cứu. Vì vậy, trong chương này chúng tôi sẽ trình bày một cách khái quát về những đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi tôm sú và một số cơ sở lý luận phục vu cho dé tai.1 Khái quát đặc điểm sinh thái học và kỹ thuật nuôi tôm sii: 2.1 Đặc điểm sinh thái học con tôm sú: Tôm sú được định loại là ngành Arthropoda, lớp Crustacea, bộ Decapoda, họ chung Penacidea, ho Penaeus Fabricius, loai Monodo, với tên Khoa hoc: là Penaeus Fabricius Monodo (Tiếng anh gọi là Giant Monodo Fabricius). Pham vi phân bố của tôm sti khá rộng, từ Ấn Độ Dương qua hướng Nhật Bản, Đài Loan, phía đông Tahiti, phía nam Châu Úc và phía tây Châu Phi (Racek-1955,Holthuis va Rosa -1965, Motoh -1981,1985). Nhìn chung tôm st phân bố từ kinh độ 30°E đến 155°E từ vi độ 35°N đến 35°S xung quanh các vùng xích đạo, đặc biệt là Indonesia, Malaysia, Philipines, Việt Nam.
Tôm sti là loài ăn tap, đặc biệt ưa giáp xác thực vật dưới nước, mảnh vụn hữu cơ, giun nhiễu tơ, loại 2 mảnh vỏ, côn trùng. Khi kiểm tra trong da dày của tôm sú sống ngoài tự nhiên ta thấy 85% gồm giáp xác, cua nhỏ, động vật nhuyễn thể 2 mảnh vỏ, còn lại 15% là cá, giun nhiều tơ, thủy sinh vật, mảnh vụn hữu cơ và cát bùn. Trong tự nhiên, tôm st bắt mdi nhiễu hơn khi thủy triểu rút. Tôm sti nuôi trong ao, hoạt động bắt môi bằng càng, đẩy thức ăn vào miệng để gặm thức ăn, thời gian tiêu hoá 4-5 h trong da day.2 Tổng quát qui trình nuôi tôm sú: 2.1 Chuẩn bị ao nuôi: ° Trước mỗi vu nuôi tôm trong khoảng 20 - 30 ngày phải hoàn chỉnh công tác chuẩn bị ao theo trình tự sau: + Cải tạo ao: Cải tạo ao nuôi là khâu rất quan trọng trong quá trình nuôi, nó có sự quyết định đến sự thành công trong nuôi tôm khi cải tạo cần theo các qui trình sau: | -Tháo cạn nước trong ao huôi, sên vết bùn đen và cdc chất hữu cơ lắng | đọng.
Đối với ao có nền cát, thì phải cày xới 1 lớp mỏng để cho thoát hết khí độc ra ngoài, rửa sạch nén day ao. -Lấp các hang hốc, sửa sang bờ cống và đầm nén đáy ao cho bằng phẳng dốc nghiêng về phía cống thoát. + Sát trùng đáy ao và khử phèn : -Bón vôi bột trãi đều khắp nền đáy ao để hạ phèn và diệt mầm bệnh liều lượng thường 7 -15 kg/100m tùy theo độ PH của đất. Sau đó sử dụng thuốc diệt cá để điệt tạp, cá dữ.
-Phơi đáy ao trong vòng 10 -15 ngày cho đất nứt chân chim tạo cho bề mặt đáy ao luôn khô cứng đảm bảo cho quá trình khoáng hóa, sát trùng, khử phèn. Những ao mới đào không được phơi nắng đáy ao, nếu không xì phèn rất khó xử lý. -Lấy nước vào ao bằng cách chặn lưới lấy nước vào ao, nên có hàng rào bảo vệ lưới, hạn chế rác tấp vào làm rách lưới. * Ao trữ lắng ( đối với nuôi thâm canh, bán thâm canh): -Diện tích chiếm khoảng 30% diện tích ao nuôi.
-Nước từ kênh rạch hoặc các nguồn khác được đưa vào ao trữ lắng với thời gian 7 đến 10 ngày. Tùy điều kiện cụ thể áp dụng các liễu lượng hóa chất sát tràng. + Bon phân gây màu tạo nguồn thức ăn tự nhiên : Khoảng 7 ngày trước khi tha tôm giống, sử dụng phân bón vô cơ và chất -_dinh dưỡng bón liên tục cho ao mỗi ngày để tạo nguồn thức ăn tự nhiên.2 Tha tôm giống: _ - Tôm giống sau khi lựa chọn theo các tiểu chuẩn sẽ được thả vào ao (mật độ tùy theo hình thức nuôi và nguồn “in gia dinh). - Nguén giống phẩi thudn hóa cho hợp với môi trường, tốt nhất là con giống ươm tại địa phương.
6 - 8 h và chiều mát từ 17 -18 h. - Thời gian thả giống từ lúc sáng sớm - Tha giống tôm được chuyển về ao nuôi, ngâm toàn bộ xuống ao cho cân bằng nhiệt độ (5 -10 phút) cho tôm quen dẫn với môi trường mới rồi thả tôm ra từ từ, trong khi thả tôm tránh làm đục nước ao. - Để tôm tự bơi ra ngoài. - Thả tôm trên gió va tha nhiều điểm trong ao để tôm phân bố đều.3 Chăm sóc va quản lý : ®& Cho an: Chủ yếu thức ăn công nghiệp ngoài ra còn có thể tận dụng thức ăn tự nhiên có sẵn trong ao, có thể sử dụng thức ăn nấu sẵn hoặc chế biến như: ruốc, tôm cá vụn, lúa xay.Tùy theo hình thức nuôi cụ thể thì ta có chế độ cho ăn thích hợp, thông thường thì người nuôi có thể cho ăn phụ thuộc vào hình thức nuôi.
Việc theo dõi lượng thức ăn là khâu rất quan trọng trong công tác quan lý cho ăn. Cho ăn 4 -5 lần /ngay đêm tùy thuộc vào lượng tôm, tình hình thời tiết và sức khoẻ tôm.