chương 1 cũng giới thiệu một số lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh. Từ đó, cung cấp cơ sở để lựa chọn phương pháp tiếp cận phù hợp để phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Logistics Phong Phú Vina giai đoạn 2015 – 2017 ở chương 2 một cách hiệu quả nhất. Một số vấn đề về phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh 1. Khái niệm phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Luật doanh nghiệp (2005) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ rõ bản chất của kinh doanh như sau: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu, đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp, phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Josette Peyrard, 2005). Để đáp ứng nhu cầu quản lý kinh doanh ngày càng cao và phức tạp, phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh được hình thành và ngày càng được hoàn thiện với hệ thống lý luận độc lập (Nguyễn Ngọc Quang, 2008). Còn theo Nguyễn Thị Mai Hương (2008) thì phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh được sử dụng để chỉ quá trình nghiên cứu toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp với mục đích sinh lợi, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi để đạt được mục đích kinh doanh. Trong đề tài này, tác giả sử dụng định nghĩa của Krishna G.
Palepu và cộng sự (2007) làm cơ sở để phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: “Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là quá trình đánh giá kết quả kinh doanh và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đề ra các giải pháp, phương hướng kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp”. Mục đích phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Andy Neely (2003) nhận định phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh nhằm nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình kinh tế – tình hình tài chính và nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả của tình hình đó. Kết quả phân tích là cơ sở dự báo, hoạch định chính sách và đưa ra quyết định hoạt động kinh doanh của tất cả các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế. Sau khi phân tích hiệu quả của hoạt động kinh doanh, việc gắn liền hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với thực trạng xã hội giúp điều chỉnh mối quan hệ cung – cầu trên thị trường, từ đó doanh nghiệp có thể nhận biết, cải tạo chất lượng sản phẩm, dịch vụ và quy mô hoạt động phù hợp với bối cảnh hiện tại (Guangming Cao và cộng sự, 2007).
Ý nghĩa phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để đưa ra các quyết định kinh doanh, giúp các nhà quản lý nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp của mình, trên cơ sở này, doanh nghiệp sẽ xác định mục tiêu cùng các chiến lược kinh doanh đúng đắn hơn (Andy Neely, 2007). Thông qua quá trình phân tích, doanh nghiệp thấy rõ nguyên nhân cùng nguồn gốc của vấn đề phát sinh và có giải pháp cụ thể để cải tiến cách thức hoạt động và quản lý của doanh nghiệp (Krishna G. Palepu và cộng sự, 2007). Nghiên cứu của Đỗ Huyền Trang (2012) còn nhấn mạnh phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là cơ sở cho việc kiểm tra, đánh giá hoạt động kinh doanh, đồng thời công tác phân tích đó còn là biện pháp quan trọng trong việc phòng ngừa rủi ro kinh doanh cho doanh nghiệp.
Yêu cầu của phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh Theo Ruth SaraAguilar (2004), muốn công tác phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh mang ý nghĩa thiết thực, làm cơ sở tham mưu cho các nhà quản lý đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp thì công tác phân tích hoạt động kinh doanh phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau: Tính đầy đủ: nội dung và kết quả phân tích phụ thuộc rất nhiều vào sự đầy đủ của nguồn tài liệu phục vụ cho công tác phân tích, tính đầy đủ còn thể hiện phải tính toán tất cả các chỉ tiêu cần thiết thì mới đánh giá đúng đối tượng cần phân tích. 5 Tính chính xác: chất lượng của công tác phân tích phụ thuộc rất nhiều vào tính chính xác về nguồn số liệu khai thác, phụ thuộc vào sự chính xác trong việc lựa chọn phương án phân tích, chỉ tiêu dùng để phân tích. Tính kịp thời: sau mỗi chu kỳ hoạt động kinh doanh phải kịp thời tổ chức phân tích, đánh giá tình hình hoạt động, kết quả và hiệu quả kinh doanh đạt được nhằm nắm bắt những mặt mạnh, những hạn chế trong hoạt động kinh doanh, thông qua đó đề xuất những giải pháp kịp thời cho thời kỳ hoạt động kinh doanh tiếp theo có kết quả cao hơn. Một số lý thuyết về phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh 1.
Lý thuyết về sự đo lường hiệu quả kinh doanh của Simsons Robert (2000) Theo Simmons Robert (2000), các thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh có thể khách quan hoặc chủ quan. Thước đo khách quan thường được thực hiện rõ ràng và được kiểm định, trái ngược với chủ quan. Các thước đo được chủ yếu phân loại theo hai phương diện: tài chính và phi tài chính. Thước đo tài chính thường liên quan trực tiếp đến biểu đồ tài chính và thể hiện qua bảng sao kê lợi nhuận và thua lỗ của công ty, mức hàng tồn kho, số dư khoản phải thu.
Thước đo phi tài chính có xu hướng thông qua mức độ hài lòng của khách hàng và chất lượng sản phẩm, mức độ kỹ năng hoặc kiến thức, sáng tạo và đổi mới của công ty. Các thước đo cũng có thể mang tính chất dẫn đầu (leading) hay đi sau (lagging). Thước đo đi sau thường dựa vào các phản hồi về kết quả trong quá khứ. Thước đo dẫn đầu theo hướng ngược lại, cung cấp một tầm nhìn hiệu quả trong tương lai, cụ thể hơn thường về tài chính.
Một số khác có thể bao gồm mức độ hài lòng, niềm tin hoặc khả năng từ bỏ sản phẩm của khách hàng trong tương lai. Lý thuyết về hiệu quả kinh doanh tài chính của Ali Almazari (2011) Theo Ali Almazari (2011), hiệu quả kinh doanh tài chính chỉ ra lợi nhuận tối đa hóa công ty và giá trị gia tăng trên cơ sở cắt giảm chi phí và mở rộng doanh thu nhờ tập trung vào việc tăng thị phần. Ngoài ra, hiệu quả tài chính là một cách để thỏa mãn các nhà đầu tư và có thể được thể hiện bằng lợi nhuận, tăng trưởng và giá trị thị trường. Đo lường lợi ích tài chính của các mối quan hệ nhà cung cấp là một nhiệm vụ khó khăn vì lợi ích không hiển thị rõ ràng trong tài khoản tài chính của công ty.
Hơn nữa, không có tập hợp dứt khoát các 6 tỷ lệ tài chính để đo lường hiệu suất của một doanh nghiệp. Do đó, một loạt các biện pháp có thể được đưa ra để đánh giá các khía cạnh khác nhau của hiệu quả tài chính từ những quan điểm khác nhau. Vì thế, biện pháp chủ yếu được đưa ra bao gồm giảm chi phí, tăng thị phần và gia tăng giá trị tài chính. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị tác động bởi rất nhiều yếu tố khác nhau (G.
Buonanno và cộng sự, 2005). Theo Chuthamas Chittithaworn (2010), bên cạnh yếu tố bên ngoài, các yếu tố bên trong tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nguồn lao động, cơ sở vật chất, tổ chức hệ thống kinh doanh, công nghệ thông tin, nguồn lực tài chính. Mathew Philip (2010) cho rằng các yếu tố điển hình như môi trường kinh tế, môi trường pháp luật, chính sách nhà nước, cơ sở hạ tầng,… là những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đề tài sẽ lần lượt trình bày sự cần thiết, tầm quan trọng của các yếu tố nêu trên.
Các yếu tố bên ngoài Đây là các nhân tố nằm ngoài phạm vi kiểm soát của doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể kể đến một số nhân tố chính như sau: Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế là một yếu tố rất quan trọng thu hút sự quan tâm của tất cả các nhà quản trị. Những diễn biến của môi trường kinh tế bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội và đe doạ khác nhau đối với từng doanh nghiệp trong các ngành khác nhau và có ảnh hưởng tiềm tàng đến các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp (Phan Thị Minh Lý, 2011). Theo Hunter Taylor (2018) nếu một quốc gia sở hữu một nền kinh tế phồn thịnh thì người tiêu dùng có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn, không chỉ cho những thứ thiết yếu mà còn những thứ lớn hơn.
Còn Umar Farooq (2006) cho rằng lượng tiền mà quốc gia đầu tư vào các lĩnh vực dài hạn và khả năng tài chính của người dân tạo nên sự phát triển kinh tế của một đất nước. Kinh doanh căn bản đáp ứng nhu cầu của một môi trường kinh tế - xã hội có 7 mạnh hay không. Vì thế, trong tất cả các yếu tố thì kinh tế luôn đóng vai trò quan trọng hơn cả, ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh và sự phát triển của doanh nghiệp. Môi trường pháp luật và chính sách nhà nước Pháp luật, chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh hay không lành mạnh hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố pháp luật và chính sách quản lý nhà nước về kinh tế. Việc ban hành hệ thống luật pháp có chất lượng là điều kiện đầu tiên đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải kinh doanh chân chính, có trách nhiệm. Tuy nhiên nếu hệ thống pháp luật không hoàn thiện cũng sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường kinh doanh, gây khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (Umar Farooq, 2008). Bill Williams (2017) nhận định sự thay đổi trong pháp luật nhà nước làm thay đổi cách thức doanh nghiệp hoạt động.