CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động Từ xa xưa, con người đã nhận thức được các nguồn lực, tài nguyên là có giới hạn nên trong quá trình lao động, con người luôn tìm mọi cách để sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả nhất. Điều đó cho biết ai cũng muốn làm việc hiệu quả vì không hành động nào của con người là không hướng đến hiệu quả cao hơn.
Từ đó cho thấy, phạm trù hiệu quả đã có từ rất lâu và rất quan trọng, là mối quan tâm hàng đầu của mọi hoạt động cụ thể nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Trong từ điển Kinh tế học, hiệu quả được hiểu là “Kết quả thực của việc làm mang lại” (Nguyễn Văn Ngọc, 2012). Điều này cho thấy hiểu một cách chung nhất, hiệu quả là một phạm trù kinh tế xã hội, là một chỉ tiêu phản ánh trình độ của con người sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia trong các hoạt động để đạt được kết quả với mục đích của mình. Đây là một khái niệm rộng, bao gồm tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội (từ SXKD đến y tế, giáo dục, quốc phòng,.), không chỉ đề cập đến hiệu quả kinh tế mà còn có hiệu quả xã hội.
Manfred (2010) nhận định “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”. Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh doanh của các quá trình kinh tế. Hai tác giả Whohe và Doiring (1999) đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh doanh là “Hiệu quả kinh doanh tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh doanh tính bằng đơn vị giá trị. Khái niệm hiệu quả 10 kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí”.
Do vậy, bản chất của HQHĐ là hiệu quả của nguồn lực, lao động xã hội được xác định bằng cách so sánh lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí nguồn lực, lao động xã hội. Do đó: Về khía cạnh kinh tế, Nguyễn Văn Công (2019) cho rằng “HQKD là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của DN để đạt được kết quả cao nhất trong KD với chi phí thấp nhất”. Quan điểm này cho thấy rằng HQKD khác với kết quả KD và có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với kết quả KD. Kết quả KD bao gồm cả HQKD của DN và hiệu quả xã hội do DN tạo ra.
Chính vì vậy, khi đánh giá hoạt động KD, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn đánh giá chất lượng hoạt động KD để tạo ra kết quả đó Về khía cạnh xã hội, Nguyễn Ngọc Tiến (2017) cho rằng “Hiệu quả lao động xã hội được xác định bằng cách so sánh đại lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng chi phí lao động xã hội đã bỏ ra”. Như vậy, theo quan điểm này, hiệu quả lao động của xã hội không đơn thuần chỉ là kết quả của hoạt động kinh tế, vì kết quả mới chỉ là biểu hiện về mặt hình thức mà hoạt động kinh tế thu được, chúng ta cần xem xét kết quả đó được tạo ra bằng cách nào, với giá nào mới là mối quan tâm của các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, vì nó thể hiện kết quả chất lượng của hoạt động Từ bản chất của HQHĐ và các vấn đề nêu trên, có thể đúc kết lại rằng: “HQHĐ là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của DN vào hoạt động KD sao cho hao phí nguồn lực, tài lực là thấp nhất với lợi ích mang lại là cao nhất; lợi ích mang lại bao gồm lợi ích cho bản thân DN và lợi ích cho cả xã hội”. Với quan điểm này, HQHĐ được biểu hiện thông qua việc so sánh: So sánh giữa nguồn lực bỏ ra với lợi ích thu được và ngược lại, có 11 thể so sánh giữa lợi ích thu được với nguồn lực bỏ ra hoặc trên một đơn vị nguồn lực bỏ ra. Đồng thời, HQHĐ phải được xem xét trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể và phải xem xét về phương diện hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
HQHĐ của DN là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh tế, nhà quản lý DN nên việc phân tích HQHĐ là hết sức quan trọng và cần thiết. Vì phân tích HQHĐ là việc xem xét, đối chiếu, so sánh và đánh giá HQHĐ của DN thông qua các chỉ tiêu hiệu quả giữa hiện tại với quá khứ, giữa chi phí bỏ ra với kết quả thu được, giữa hoạt động này với hoạt động khác, giữa hiệu quả DN mình với hiệu quả của các DN khác trong cùng ngành KD,. Các thông tin này sẽ giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin có cơ sở khoa học để đưa ra quyết định KD của mình. Qua phân tích nêu trên cho thấy HQHĐ và các chỉ tiêu phân tích HQHĐ là công cụ quan trọng và hữu ích để đánh giá chất lượng hoạt động của DN; giúp các nhà quản lý và các bên liên quan đánh giá chính xác việc sử dụng và khai thác các nguồn lực của DN trong quá trình hoạt động KD có hiệu quả không; từ đó đưa ra các quyết định phù hợp với mục tiêu, mục đích mà mình quan tâm.
Từ các quan điểm trên, có thể đưa ra khái niệm hiệu quả kinh doanh của các hoạt động SXKD của các DN như sau: - Hiệu quả SXKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị tiền vốn và các yếu tố khác) trong quá trình tái SX nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ. - Hiểu một cách đơn giản, hiệu quả kinh doanh là kết quả đầu ra tối đa trên chi phí đầu vào. Hiệu quả kinh doanh chỉ có thể đạt được trên cơ sở năng suất lao động và chất lượng công tác quản lý. Để đạt được hiệu quả kinh doanh ngày càng cao và vững chắc, đòi hỏi các nhà kinh doanh phải nắm chắc cung cầu hàng hóa trên thị trường, các đối thủ cạnh tranh,.
- Hiểu được điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp để khai thác hết mọi 12 năng lực hiện có, tận dụng được những cơ hội vàng của thị trường, có nghệ thuật kinh doanh để doanh nghiệp ngày càng vững mạnh và phát triển không ngừng. Phân loại hiệu quả hoạt động HQHĐ là một phạm trù lớn nên với các cách tiếp cận, phân tích, đánh giá HQHĐ, tiêu thức phân loại HQHĐ rất đa dạng. Từ tổng hợp các nghiên cứu trước, HQHĐ được phân loại như sau: Thứ nhất, phân loại theo mức độ tổng hợp hay chi tiết, HQHĐ bao gồm hiệu quả tổng hợp và hiệu quả chi tiết: Hiệu quả tổng hợp: Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hàng đầu của DN là thu được lợi nhuận cao. Lợi nhuận thu được từ quá trình KD của các DN cũng là thước đo đánh giá hiệu quả đã đạt được.
Vì vậy, hiệu quả tổng hợp được thể hiện ở số lợi nhuận DN thu được trong kỳ và mức sinh lời của một đồng vốn KD. Nói cách khác, lợi nhuận thể hiện kết quả tổng thể của quá trình phối hợp tổ chức đảm bảo KD của DN; Hiệu quả chi tiết: Để có thể xem xét đánh giá một cách chính xác hiệu quả, người ta xây dựng các chỉ tiêu chi tiết cho từng yếu tố của quá trình SXKD trên cơ sở so sánh từng loại phương tiện, từng nguồn lực với kết quả đạt được. Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả chi tiết đối với từng loại phương tiện khác nhau thường được sử dụng với nhiều tên gọi như: Hiệu suất, năng suất, tỷ suất,. Thứ hai, phân loại theo mối quan hệ với các chính sách tài trợ, HQHĐ bao gồm HQKD và hiệu quả tài chính: HQKD là công cụ quản lý KD của DN, không những cho biết trình độ sản xuất mà còn giúp tìm ra các biện pháp tăng kết quả và giảm chi phí KD, nhằm nâng cao hiệu quả.
Hiệu quả tài chính được hiểu là hiệu quả SXKD hay hiệu quả DN, là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một DN. Hiệu quả tài chính phản ánh mối 13 quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà DN nhận được với chi phí mà DN phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế. Thứ ba, phân loại theo mối quan hệ với cộng đồng KD, HQHĐ bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội: Hiệu quả kinh tế là một đại lượng so sánh giữa đầu vào và đầu ra hoặc so sánh giữa đầu ra với đầu vào, so sánh giữa chi phí KD bỏ ra với kết quả KD thu được, so sánh chi phí KD bỏ ra với LN thu được,. Hiệu quả xã hội là phép so sánh giữa quá trình kết hợp các yếu tố lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động theo một mối tương quan cả về số lượng và chất lượng trong quá trình KD để tạo ra kết quả là sản phẩm, dịch vụ tiêu chuẩn cho tiêu dùng và giải quyết các vấn đề xã hội.
Kết quả này có thể là một đại lượng vật chất có thể định lượng được như: Mức đóng góp của DN vào ngân sách Nhà nước thông qua nộp thuế hoặc tạo ra số công ăn việc làm cho người lao động với mức thu nhập bình quân đầu người được chi trả,. Tuy nhiên, đây có thể chỉ là so sánh đơn thuần về chi phí bỏ ra so với sự thỏa mãn, hài lòng đạt được trong tiêu dùng (số lượng sản phẩm tiêu dùng, nhu cầu đi lại, giao tiếp,.) và có phạm vi xác định (tổng giá trị sản xuất, giá trị sản lượng hàng hóa, giá trị thực hiện, giao dịch,.), hiệu quả xã hội này thiên về nhận định định tính như góp phần giải quyết nhu cầu tiêu dùng của người dân, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng thực hành cho người lao động hay góp phần cải thiện văn hóa, giáo dục, môi trường,.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động HQHĐ tại DN chịu nhiều tác động từ các nhân tố bên trong và cả bên ngoài của DN.