CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH THU VÀ PHÂN TÍCH DOANH THU. Những vấn đề cơ bản về doanh thu và phân tích doanh thu. Một số khái niệm cơ bản về doanh thu. Khái niệm doanh thu.
Trong doanh nghiệp nói chung và trong doanh nghiệp thương mại dịch vụ nói riêng kết quả tiêu thụ sản phẩm được xác định bằng chỉ tiêu doanh thu. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về doanh thu chẳng hạn như : Theo chuẩn mực kế toán số 14 – doanh thu và thu nhập khác theo chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo quyết định số 48/2006QĐ – BTC ngày 14/09/2006. Doanh thu : Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị cả các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được.
Các khoản bên thứ ba không phải là nguồn lợi kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu. Các khoản vốn góp của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không làm tăng doanh thu. Theo điều 78 Thông tư 200/2014/TT-BTC quy định : Doanh thu : là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền.
Kết cấu doanh thu. Doanh thu của doanh nghiệp bao gồm: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác. Trong đó: Trong nền kinh tế hiện nay nền kinh tế định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh tạo ra các loại sản phẩm và cung cấp dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường với mục tiêu là lợi nhuận. SV: Nguyễn Thị Thảo 8 Lớp: K48D6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.
Nguyễn Quang Hùng Để thực hiện mục tiêu đó doanh nghiệp phải thực hiện được giá trị sản phẩm, hàng hóa thông qua hoạt động tiêu thụ sản phẩm (hay bán hàng). Tại trang 296, giáo trình kế toán tài chính – học viện tài chính do GS. Ngô Thế Chi và TS. Trương Thị Thủy chủ biên viết về kế toán bán hàng có định nghĩa : Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nó kết thúc một chu kì kinh doanh và mở ra một chu kỳ kinh doanh mới, đây là quá trình chuyển hóa vốn từ hình thái vốn thành phẩm, hàng hóa sang hình thái vốn tiền tệ hoặc vốn từ hình thái vốn trong thanh toán. Vì vậy, đẩy nhanh quá trình bán hàng đồng nghĩa với việc rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, tăng nhanh vòng quay vốn, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu được tiền sẽ thu được tiền từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có). Giáo trình phân tích kinh tế doanh nghiệp thương mại dịch vụ - Trường Đại Học Thương Mại có viết : Kết quả tiêu thụ hàng hóa trong doanh nghiệp là khối lượng hàng hóa mà doanh nghiệp thực hiện trong một thời kỳ nhất định.
Doanh thu bán hàng là lượng tiền mà doanh nghiệp thu được do việc thực hiện hàng hóa trên thị trường trong một thời kỳ và được xác định bằng công thức : n M = ∑ QiPi i=1 Trong đó : - M là : Doanh thu bán hàng - Pi : Giá bán một đơn vị hàng hóa loại i - Qi : Số lượng bán ra của hàng hóa loại i - i : Loại hàng hóa thứ I (i=1,n) Tổng doanh thu bán hàng: là tổng số tiền ghi trên hóa đơn bán hàng, trên hóa đơn cung cấp dịch vụ, có thể là tổng giá thanh toán (với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp cũng như các đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế SV: Nguyễn Thị Thảo 9 Lớp: K48D6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Quang Hùng TTĐB) hoặc giá không có VAT (với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ Là toàn bộ số tiền thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản thu hoặc sẽ thu được từ bán thành phẩm, hàng hóa sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu như chiết khấu thưng mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại và các khoản thuế gián thu. * Doanh thu thuần được tính bằng tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ (-) các khoản giảm trừ (Kế toán doanh nghiệp, Học viện tài chính, NXB Thống kê , 2004, trang 342) DTT = Tổng DT – Các khoản giảm trừ doanh thu 1.
Các khoản giảm trừ doanh thu - Chiết khấu thương mại: Là khoản tiền giảm trừ cho khách hàng tính trên tổng số các nghiệp vụ đã thực hiện trong thời gian nhất định, khoản giảm trừ trên giá bán thông thường vì lý do mua với khối lượng lớn. - Hàng bán bị trả lại: Đây là trị giá số sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do những vi phạm cam kết, hàng bị mất, kém phẩm chất, không đúng quy cách chủng loại. - Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ được người bán chấp nhận một cách đặc biệt trên giá thanh toán thỏa thuận cho người mua do toàn bộ hay một phần sản phẩm, hàng hóa kém, mất phẩm chất hay không đúng quy cách theo như quy định trong hợp đồng kinh tế. Các khoản giảm trừ đều làm giảm doanh thu - Các khoản thuế gián thu gồm: Thuế xuất khẩu, Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế GTGT + Thuế xuất khẩu: Là loại thuế gián thu đánh vào loại hàng hóa xuất khẩu (thuộc danh mục hàng hóa bị đánh thuế) qua cửa khẩu và biên giới Việt Nam.
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là loại thuế gián thu đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ nằm trong danh mục Nhà Nước quy định cần điều tiết sản xuất hoặc tiêu dùng. Thuế tiêu thụ đặc biệt được cấu thành trong giá bán hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, dịch vụ. SV: Nguyễn Thị Thảo 10 Lớp: K48D6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. Nguyễn Quang Hùng + Thuế GTGT: Là loại thuế gián thu đánh vào người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất lưu thông đến tiêu dùng.
Tổng số thuế thu được mỗi khâu được chính bằng với số thuế tính trên giá bán. Doanh thu hoạt động tài chính Là tổng lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được từ hoạt động tài chính hoặc kinh doanh về vốn trong kì kế toán. Doanh thu hoạt động tài chính phát sinh từ các khoản tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức, lợi nhuận được chia và doanh thu từ hoạt dộng tài chính. (Giáo trình Kế toán tài chính 2 – Đại học Thương Mại ,trang 78) Doanh thu và thu nhập khác : là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu.
(26 chuẩn mực kế toán Việt Nam,nhà xuất bản thống kê,p.12), gồm: - Thu về thanh lý TSCĐ, nhượng bán TSCĐ; - Thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng; - Thu tiền bảo hiểm được bồi thường; - Thu được các khoản nợ phải thu đã xáo sổ tính vào chi phí kỳ trước; - Khoản nợ phải trả nay mất chủ được ghi nhận vào doanh thu; - Thu các khoản thuế được giảm, được hoàn nhập; - Các khoản thu khác. Một số vấn đề lý thuyết liên quan. Ý nghĩa của việc phân tích doanh thu doanh thu. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có vai trò vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp.
Vì vậy tăng doanh thu có ý nghĩa không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn ddoiss với xã hội. Đối với DN: Thông qua việc phân tích doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ giúp doanh nghiệp đánh giá chính xác tình hình thực hiện chỉ tiêu doanh thu. Đồng thời, những số liệu tài liệu phân tích doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là cơ sở, căn cứ để phân tích các chỉ tiêu kinh tế khác như: phân tích tình hình mua hàng, phân tích tình hình chi phí hoặc lợi nhuận (kết quả) kinh doanh. Ngoài ra, SV: Nguyễn Thị Thảo 11 Lớp: K48D6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.
Nguyễn Quang Hùng doanh nghiệp cũng sử dụng các số liệu phân tích doanh thu bán hàng làm cơ sở, căn cứ xây dựng kế hoạch kinh doanh cho các kỳ tiếp theo. Đối với xã hội: Tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm bảo cân đối cung cầu, nâng cao đời sống nhân dân. Mục đích của việc phân tích doanh thu. Thứ nhất: Phân tích tình hình doanh thu nhằm mục đích nhận thức và đánh giá một cách đúng đắn, toàn diện và khách quan tình hình thức hiện các chỉ tiêu doanh thu bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ về số lượng, kết cấu chủng loại và giá cả hàng hóa…qua đó thấy được mức độ hoàn thành số chênh lệch tăng giảm của các chỉ tiêu kế hoạch doanh thu bán hàng của doanh nghiệp.
Thứ hai: Đồng thời cũng qua phân tích nhằm mục đích thấy được những mâu thuẫn tồn tại và những nguyên nhân ảnh hưởng khách quan cũng như chủ quan trong khâu bán hàng để từ đó tìm ra những giải pháp, chính sách quản lý thích hợp nhằm đẩy mạnh bán hàng, tăng doanh thu. Nguồn tài liệu sử dụng trong phân tích doanh thu. Nguồn tài liệu bên trong doanh nghiệp: - Các chỉ tiêu kế hoạch và thực hiện doanh thu bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ phân tích và các kỳ liền kề. - Doanh thu bán hàng được xây dựng theo nghiệp vụ kinh donh và theo nhóm hàng và phương thức bán.