Luận văn: Phân tích danh mục thuốc tại Bệnh viện Đa khoa Thái Ninh năm 2023

Luận văn phân tích chi tiết danh mục thuốc tại BVĐK Thái Ninh năm 2023. Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc và các vấn đề tồn tại qua phân tích ABC/VEN.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp II

2025

121
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phân tích danh mục thuốc tại Bệnh viện Đa khoa Thái Ninh

Phân tích danh mục thuốc tại Bệnh viện Đa khoa Thái Ninh năm 2023 là một nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá việc sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế tuyến huyện. Danh mục thuốc bệnh viện (DMTBV) là tập hợp các loại thuốc được phê duyệt sử dụng, bao gồm thuốc hóa dược, thuốc đông y và thuốc từ dược liệu. Nghiên cứu này tuân thủ các văn bản qui định của Bộ Y tế về quản lý sử dụng thuốc trong bệnh viện. Phân tích cơ cấu danh mục thuốc giúp xác định hiệu quả điều trị, tối ưu hóa chi phí y tế và phát hiện những vấn đề tồn tại trong quản lý dược. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để cải thiện chất lượng dịch vụ y tế tại bệnh viện.

1.1. Khái niệm và vai trò của danh mục thuốc bệnh viện

Danh mục thuốc bệnh viện là danh sách chính thức các thuốc được phê duyệt sử dụng trong cơ sở y tế. Nó đóng vai trò quan trọng trong quản lý dược, đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả. DMTBV giúp kiểm soát chất lượng thuốc, tối ưu hóa chi phí điều trị và phòng tránh sử dụng thuốc không cần thiết.

1.2. Các phương pháp phân tích sử dụng thuốc

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích hiện đại như phân tích ABC (xác định thuốc tiêu tốn chi phí cao), phân tích VEN (phân loại theo tầm quan trọng lâm sàng) và ma trận ABC-VEN kết hợp. Các phương pháp này giúp đánh giá toàn diện danh mục thuốc, từ đó phát hiện những thuốc cần ưu tiên và những thuốc sử dụng không hợp lý.

II. Đặc điểm và thực trạng danh mục thuốc năm 2023

Cơ cấu danh mục thuốc tại Bệnh viện Đa khoa Thái Ninh năm 2023 phản ánh tình trạng sử dụng thuốc theo các tiêu chí khác nhau. Nghiên cứu phân loại thuốc theo nhóm tác dụng dược lý, loại hình thuốc (generic hay biệt dược gốc), nguồn gốc xuất xứ (nhập khẩu hay sản xuất trong nước) và đường dùng. Kết quả cho thấy cơ cấu danh mục còn tồn tại những vấn đề như sử dụng quá nhiều thuốc kháng sinh đường tiêm, chưa ưu tiên các sản phẩm SXTN thay thế nhập khẩu và sử dụng một số thuốc nhóm tiêu hóa không hợp lý. Những phát hiện này cung cấp cơ sở để đề ra các giải pháp cải thiện.

2.1. Cơ cấu danh mục theo phân loại thuốc

Phân loại cơ cấu danh mục thuốc bao gồm: thuốc hóa dược chiếm tỷ lệ lớn, thuốc đông y và thuốc từ dược liệu có mặt với tỷ lệ nhỏ hơn. Phân loại theo generic và biệt dược gốc cho thấy sự cân bằng trong sử dụng, trong khi đó thuốc nhập khẩu còn nhiều so với thuốc sản xuất trong nước.

2.2. Các vấn đề tồn tại chính

Các vấn đề chính bao gồm: sử dụng kháng sinh không hợp lý, chưa ưu tiên SXTN thay thế, sử dụng quá nhiều thuốc tiêu hóa đường tiêm, và sự khác biệt giữa danh mục trúng thầu và danh mục thực sử dụng. Các nguyên nhân chủ yếu liên quan đến thói quen sử dụng, kiến thức của nhân viên y tế và chính sách cấp bệnh viện.

III. Phương pháp phân tích ABC VEN và kết quả

Phân tích ma trận ABC-VEN là phương pháp kết hợp hai tiêu chí: ABC phân tích dựa trên giá trị chi tiêu (A: 80% chi phí, B: 15% chi phí, C: 5% chi phí) và VEN phân tích dựa trên tầm quan trọng lâm sàng (V: vital/cần thiết, E: essential/thiết yếu, N: non-essential/không thiết yếu). Kết quả phân tích tại Bệnh viện Đa khoa Thái Ninh cho thấy nhóm thuốc AV (chi phí cao và quan trọng lâm sàng) cần được quản lý chặt chẽ, trong khi nhóm CN (chi phí thấp, không thiết yếu) có thể được hạn chế sử dụng. Ma trận này giúp bệnh viện tối ưu hóa danh mục thuốc, đảm bảo sử dụng hợp lý và tiết kiệm chi phí.

3.1. Nguyên tắc của phân tích ABC VEN

Phân tích ABC xác định nguồn sử dụng chi phí, trong khi phân tích VEN đánh giá mức độ quan trọng lâm sàng. Kết hợp hai phương pháp tạo ra 9 nhóm thuốc khác nhau, mỗi nhóm có chiến lược quản lý riêng. Phương pháp này khoa học và hiệu quả trong việc tối ưu hóa danh mục thuốc.

3.2. Ý nghĩa lâm sàng và kinh tế

Ma trận ABC-VEN giúp xác định những thuốc cần ưu tiên cấp (nhóm AV và EV), những thuốc cần kiểm soát sử dụng (nhóm AN), và những thuốc có thể loại bỏ (nhóm CN). Kết quả tại Bệnh viện Đa khoa Thái Ninh cho phép tối ưu hóa chi phí mà vẫn đảm bảo chất lượng điều trị tốt nhất cho bệnh nhân.

IV. Kiến nghị cải thiện danh mục thuốc và quản lý dược

Dựa trên kết quả phân tích danh mục thuốc tại Bệnh viện Đa khoa Thái Ninh năm 2023, các kiến nghị cần được thực hiện để cải thiện chất lượng quản lý dược. Thứ nhất, cần ưu tiên sử dụng SXTN thay thế thuốc nhập khẩu khi có hiệu quả tương đương, giúp giảm chi phí và hỗ trợ ngành dược nội địa. Thứ hai, cần kiểm soát sử dụng kháng sinh thông qua các hướng dẫn lâm sàng rõ ràng, đào tạo nhân viên y tế về sử dụng hợp lý kháng sinh. Thứ ba, cần hạn chế sử dụng thuốc nhóm tiêu hóa đường tiêm, ưu tiên các dạng uống khi có thể. Cuối cùng, cần đồng bộ hóa danh mục trúng thầu và danh mục thực sử dụng, xây dựng Hội đồng thuốc và điều trị mạnh để quản lý danh mục hiệu quả hơn.

4.1. Chiến lược ưu tiên sản phẩm sản xuất trong nước

Bệnh viện nên ưu tiên sử dụng SXTN có chứng chỉ chất lượng, tham gia chương trình hỗ trợ thuốc generic. Cần thành lập nhóm đánh giá thuốc để so sánh hiệu quả giữa thuốc nhập khẩu và SXTN. Điều này vừa giảm chi phí vừa hỗ trợ nền dược nội địa phát triển.

4.2. Tăng cường kiểm soát và đào tạo nhân viên y tế

Cần tổ chức đào tạo định kỳ về sử dụng hợp lý kháng sinh, xây dựng quy trình chuẩn để kiểm soát sử dụng. Bệnh viện cần thiết lập Hội đồng thuốc và điều trị hoạt động hiệu quả, giám sát danh mục thuốc thường xuyên và phối hợp với nhà cung cấp để tối ưu hóa danh mục thuốc bệnh viện.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sử dụng thuốc an toàn hiệu quả và hợp lý sẽ đem lại kết quả cao trong điều trị, ngược lại nếu sử dụng thuốc thiếu hiệu quả, không hợp lý sẽ đem đến nhiều hậu quả phức tạp không mong muốn. Theo một số nghiên cứu, chi phí mua thuốc chiếm khoảng 30-40% ngân sách ngành Y tế của nhiều nước và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả. Các nghiên cứu đã cho thấy tình trạng sử dụng thuốc bất hợp lý xảy ra tại nhiều nước trên thế giới [1]. Tại các nước đang phát triển, 30%- 60% bệnh nhân sử dụng thuốc kháng sinh gấp 2 lần so với tình trạng cần thiết và hơn một nửa số ca điều trị kháng sinh không hợp lý [2].

Tại Việt Nam, với những chính sách mở cửa của cơ chế thị trường và đa dạng hóa các loại hình cung ứng thuốc, thị trường thuốc ngày càng phong phú về số lượng, chủng loại và cả nhà cung cấp. Điều này giúp cho việc cung ứng thuốc nói chung và cung ứng thuốc trong bệnh viện nói riêng trở lên dễ dàng và thuận tiện hơn. Tuy nhiên, nó cũng tác động không nhỏ tới hoạt động sử dụng thuốc trong bệnh viện, dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh cũng như tình trạng lạm dụng thuốc. Việc dùng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý trong bệnh viện là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh, tăng khả năng kháng thuốc trong điều trị.

Xây dựng danh mục thuốc điều trị là một trong những nguyên tắc quan trọng trong hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện và việc sử dụng thuốc thiếu hiệu quả, bất hợp lý trong bệnh viện là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí không cần thiết cho người bệnh trong bối cảnh các nguồn lực ngày càng trở lên khan hiếm. Do đó, đánh giá hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện thông qua phân tích danh mục thuốc sử dụng bằng các phương pháp phân tích khoa học đã được Bộ Y tế khuyến cáo đánh giá việc sử dụng thuốc một cách toàn diện là nhiệm vụ quan trọng [2] qua đó xác định các thuốc để thay thế, dựa trên hiệu quả và độ an toàn của thuốc, giảm thiểu các lãng phí trong điều trị và tối đa hóa 1 hiệu quả chi phí các thuốc trong DMT bệnh viện. Vì những lý do trên việc đảm bảo một danh mục thuốc đầy đủ, chọn lọc, phù hợp đối với từng bệnh viện là rất cần thiết. Bệnh viện đa khoa Thái Ninh là bệnh viện hạng III, có chức năng nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho hơn 22.000 dân ở khu nam huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình, hàng năm bệnh viện sử dụng một số lượng lớn thuốc để phục vụ khám chữa bệnh, trong đó thuốc hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết, thuốc điều trị ký sinh trùng, thuốc chống nhiễm khuẩn, thuốc đông y thuốc từ dược liệu, thuốc tim mạch là những nhóm thuốc có tỷ lệ sử dụng cao.

Tuy nhiên, đến nay chưa có phân tích cụ thể về danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện cũng như đánh giá vấn đề bất cập còn tồn tại trong sử dụng thuốc tại bệnh viện. Vì vậy câu hỏi đặt ra cơ cấu DMT sử dụng tại bệnh viện hiện nay như thế nào? Vấn đề tồn tại trong sử dụng thuốc là gì và nguyên nhân của các tồn tại đó trong danh mục thuốc sử dụng? Để trả lời các câu hỏi đó chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa Thái Ninh tỉnh Thái Bình năm 2023” với 02 mục tiêu như sau: Mục tiêu 1: Mô tả cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện đa khoa Thái Ninh tỉnh Thái Bình năm 2023. Mục tiêu 2: Xác định và phân tích nguyên nhân một số vấn đề tồn tại trong danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa Thái Ninh tỉnh Thái Bình năm 2023. Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn hoạt động cung ứng, sử dụng thuốc tại Bệnh viện đa khoa Thái Ninh tỉnh Thái Bình trong thời gian tiếp theo.

Tổng quan về phân tích sử dụng thuốc trong bệnh viện 1. Danh mục thuốc bệnh viện Theo Tổ chức Y tế thế giới “Danh mục thuốc bệnh viện là danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện” [3]. Danh mục thuốc bệnh viện có vai trò rất quan trọng trong chu trình quản lý thuốc trong bệnh viện, là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị an toàn, hiệu quả, kinh tế. Mỗi bệnh viện có DMT khác nhau, được xây dựng hàng năm theo nhu cầu điều trị hợp lý của các khoa lâm sàng.

DMTBV được xây dựng hàng năm theo định kỳ và có thể bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong DMT bệnh viện trong các kỳ họp của HĐT&ĐT bệnh viện [4]. Một số văn bản qui định về quản lý sử dụng thuốc trong bệnh viện. Văn bản liên quan đến tổ chức có trách nhiệm quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện. - Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ y tế quy định tổ chức và hoạt động của khoa dược bệnh viện.

Khoa Dược có chức năng và tham mưu cho Giám đốc về toàn bộ công tác Dược trong bệnh viện, nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý [4]. Như vậy khoa Dược đóng vai trò chủ đạo và đầu mối trong quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện. - Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ y tế quy định hoạt động của HĐT & ĐT. Thông tư nêu rõ chức năng của HĐT&ĐT là tư vấn cho Giám đốc về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện [5].

Theo đó HĐT&ĐT có 6 nhiệm vụ cơ bản: + Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc. + Xây dựng DMT bệnh viện. 3 + Xây dựng và thực hiện hướng dẫn điều trị. + Xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc.

+ Giám sát phản ứng có hại của thuốc và các sai sót trong điều trị. + Thông báo kiểm soát thông tin thuốc. Thông tư cũng hướng dẫn cụ thể các phương pháp phân tích được áp dụng để phát hiện các vấn đề về sử dụng thuốc, nguyên tắc xây dựng danh mục trong đó chỉ rõ ưu tiên thuốc sản xuất trong nước; tiêu chí lựa chọn thuốc: ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất, ưu tiện lựa chon thuốc generic…[5]. Văn bản hướng dẫn thực hiện các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc tại bệnh viện.

* Ban hành DMT được thanh toán BHYT theo nhóm tác dụng dược lý (TDDL) Thông tư 20/2022/TT-BYT ngày 31/12/2022 của Bộ y tế về danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế. Thông tư quy định về 1037 thuốc tân dược phân thành 27 nhóm tác dụng dược lý và 59 thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu nằm trong phạm vi thanh toán quỹ BHYT [6]. Thông tư 13/VBHN-BYT ngày 15/10/2021 của Bộ y tế ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế. * Quy định sử dụng thuốc sản xuất trong nước (SXTN) thay thế thuốc nhập khẩu (NK) Thông tư 03/2019/TT-BYT ngày 28/3/2019 của Bộ y tế ban hành danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng nhu cầu điều trị, giá thuốc và khả năng cung ứng thay thế cho thông tư 10/2016/TT-BYT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 06 năm 2019 [7].

Và Thông tư 15/2022/TT-BYT ngày 09/12/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều và phụ lục tại Thông tư 03/2019/TT- BYT ngày 28/3/2019 của Bộ y tế ban hành danh mục thuốc sản xuất trong 4 nước đáp ứng nhu cầu điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp và Thông tư số15/2020/TT-BYT ngày 10/08/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc đấu thầu tập trung, danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phàn giá [8]. * Quy định sử dụng thuốc đơn thành phần/đa thành phần Tại điểm đ, khoản 2, điều 5 Thông tư 21/2013/TT-BYT một trong những tiêu chuẩn để lựa chọn thuốc xây dựng DMT bệnh viện đó là: Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất. Đối với những thuốc dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất [5]. Tại điều 4, thông tư 52/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017 của Bộ Y tế quy định việc kê đơn thuốc phải đạt được mục tiêu an toàn, hợp lý và hiệu quả.

Ưu tiên kê đơn thuốc dạng đơn chất hoặc generic [9]. * Quy định về lựa chọn đường dùng cho người bệnh. Thông tư số 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh. Theo đó, bệnh viện căn cứ tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý để lựa chọn thuốc dùng thích hợp.

Bệnh nhân chỉ dùng đường tiêm khi không uống được hoặc khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị [10]. * Một số văn bản khác liên quan đến sử dụng thuốc tại bệnh viện. Quyết định số 4824/QĐ-BYT ngày 03/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc phê duyệt Đề án Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam [11]. Thông tư 13/VBHN-BYT ngày 15/10/2021 của Bộ y tế ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế [12].

Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019 của Bộ y tế Quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập và Thông tư 06/2023/TT-BYT Sửa 5 đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập [13], [14]. Thông tư 15/2019/TT-BYT quy định số lượng thuốc sử dụng nằm trong khoảng 80-120% so với số lượng thuốc trúng thầu. Đối với thuốc cấp cứu, thuốc giải độc, thuốc hiếm, thuốc kiểm soát đặc biệt, dịch truyền bảo đảm thực hiện 50-120% so với số lượng thuốc trúng thầu [13].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ