Luận văn ThS. Lưu Thị Huyên: Phân tích danh mục thuốc BV Phụ sản TW 2017

Luận văn thạc sĩ Dược học phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương 2017. Số liệu chi tiết về cơ cấu và phân tích ABC/VEN.

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

89
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về danh mục thuốc tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương

Danh mục thuốc tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2017 là tập hợp các loại thuốc được lựa chọn và sử dụng trong quá trình khám chữa bệnh, đặc biệt trong lĩnh vực sản phụ khoa. Việc phân tích danh mục thuốc giúp đánh giá hiệu quả sử dụng tài nguyên y tế và đảm bảo chất lượng điều trị cho bệnh nhân. Danh mục này được xây dựng dựa trên các nguyên tắc khoa học, tuân thủ các quy định của Bộ Y tế và các hướng dẫn điều trị hiện hành. Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương, với chức năng là cơ sở điều trị hạng nhất, cần có danh mục thuốc đa dạng, đáp ứng nhu cầu điều trị cho các bệnh lý liên quan đến phụ nữ và sơ sinh. Việc quản lý danh mục thuốc hiệu quả là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và tối ưu hóa chi phí điều trị.

1.1. Định nghĩa và ý nghĩa của danh mục thuốc bệnh viện

Danh mục thuốc bệnh viện là danh sách các thuốc được phê duyệt và sử dụng trong cơ sở khám chữa bệnh. Đây là công cụ quan trọng giúp chuẩn hóa điều trị, đảm bảo an toàn và hiệu quả cao nhất cho bệnh nhân. Danh mục được xây dựng theo tiêu chí lựa chọn khác nhau như tác dụng dược lý, hiệu quả lâm sàng, chi phí và khả năng tiếp cận. Nó giúp kiểm soát chi phí thuốc, giảm thiểu sử dụng không hợp lý và tạo cơ sở cho các hoạt động quản lý dược chuyên nghiệp.

1.2. Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc

Xây dựng danh mục thuốc cần tuân thủ nhiều nguyên tắc quan trọng. Thứ nhất, dựa trên bằng chứng khoa học và hướng dẫn điều trị chuẩn. Thứ hai, đảm bảo tính an toàn và hiệu quả, loại bỏ những thuốc lỗi thời. Thứ ba, xem xét khả năng tiếp cận và chi phí. Thứ tư, được xây dựng bởi hội đồng đa chuyên ngành, đảm bảo tính khách quan. Những nguyên tắc này giúp danh mục phù hợp với thực tế của bệnh viện và nhu cầu điều trị của bệnh nhân.

II. Phương pháp phân tích danh mục thuốc năm 2017

Để phân tích danh mục thuốc tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2017, các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp khoa học. Phương pháp phân tích ABC giúp phân loại thuốc theo chi phí sử dụng, trong đó thuốc hạng A chiếm 80% chi phí nhưng chỉ 20% số lượng loại thuốc. Phương pháp phân tích VEN (Vital, Essential, Non-essential) phân loại theo mức độ quan trọng lâm sàng. Kết hợp hai phương pháp này tạo thành ma trận ABC/VEN giúp đánh giá toàn diện hiệu quả sử dụng thuốc. Các phương pháp này cho phép nhà quản lý tối ưu hóa danh mục thuốc và đạt hiệu quả cao nhất.

2.1. Phương pháp phân tích ABC trong quản lý thuốc

Phân tích ABC là công cụ quản lý quan trọng, phân chia thuốc thành ba nhóm dựa trên chi phí. Nhóm A gồm những thuốc có chi phí cao (chiếm 80% tổng chi phí), nhóm B là nhóm trung bình (chiếm 15% chi phí), và nhóm C là những thuốc có chi phí thấp (chiếm 5% chi phí). Phương pháp này giúp xác định các thuốc cần ưu tiên trong quản lý hàng tồn kho và ngân sách. Áp dụng phân tích ABC cho phép bệnh viện kiểm soát chi phí hiệu quả hơn.

2.2. Phương pháp phân tích VEN và ma trận ABC VEN

Phân tích VEN phân loại thuốc theo tính quan trọng lâm sàng: Vital (quan trọng sống còn), Essential (thiết yếu), và Non-essential (không thiết yếu). Kết hợp ABC và VEN tạo thành ma trận ABC/VEN cho phép đánh giá từng loại thuốc từ nhiều góc độ. Ví dụ, một thuốc có thể là A-Vital (chi phí cao nhưng rất quan trọng) cần được ưu tiên, trong khi C-Non-essential có thể được xem xét cắt giảm. Ma trận kết hợp này cung cấp cơ sở quyết định quản lý danh mục khoa học.

III. Cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện

Danh mục thuốc tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2017 được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Theo nhóm tác dụng dược lý, bệnh viện sử dụng thuốc kháng sinh, thuốc tác dụng trên hệ thần kinh trung ương, thuốc tim mạch và các nhóm khác phù hợp với tính chất điều trị sản phụ khoa. Theo nguồn gốc xuất xứ, bệnh viện sử dụng cả thuốc nhập khẩuthuốc sản xuất trong nước. Cơ cấu thuốc biệt dược gốcthuốc generic được cân bằng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả chi phí. Phân tích theo đường dùng cho thấy sử dụng chủ yếu đường tiêm và đường uống, phù hợp với tính chất bệnh viện.

3.1. Phân loại theo nhóm tác dụng dược lý và nguồn gốc

Nhóm tác dụng dược lý là cách phân loại danh mục thuốc dựa trên chức năng lâm sàng. Bệnh viện Phụ Sản sử dụng nhiều nhóm kháng sinh để điều trị nhiễm khuẩn, thuốc oxytocin để kích thích co tử cung, và thuốc giảm đau cho sản phụ. Theo nguồn gốc, bệnh viện cân bằng giữa thuốc nhập khẩu (đảm bảo chất lượng cao) và thuốc trong nước (tiết kiệm chi phí). Thuốc biệt dược gốc được sử dụng cho các bệnh nhân có chỉ định đặc biệt, còn thuốc generic được ưu tiên để tối ưu hóa chi phí.

3.2. Phân loại theo đường dùng và thành phần thuốc

Đường dùng thuốc là tiêu chí quan trọng trong cơ cấu danh mục. Bệnh viện Phụ Sản sử dụng chủ yếu đường tiêm (tiêm tĩnh mạch, tiêm cơ) cho các tình huống cấp cứu và đường uống cho điều trị ngoại trú. Thuốc đơn thành phần được ưu tiên so với thuốc phối hợp để tránh tương tác không mong muốn. Danh sách thuốc cũng tuân thủ Thông tư 01/2012 của Bộ Y tế, đảm bảo sử dụng các thuốc được phê duyệt và chuẩn hóa điều trị.

IV. Phân tích các vấn đề trong sử dụng danh mục thuốc

Phân tích danh mục thuốc năm 2017 tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương phát hiện một số vấn đề cần được giải quyết. Thuốc hạng A, mặc dù chiếm 80% chi phí, nhưng không phải tất cả đều thuộc Thông tư 40 của Bộ Y tế, gây khó khăn trong quản lý và reimbursement. Một số thuốc chống nhiễm khuẩn đường tiêm được sử dụng không phù hợp với quy định hiện hành, tăng nguy cơ kháng thuốc. Ngoài ra, có sự mismatch giữa danh mục thuốc sử dụng thực tếdanh mục trúng thầu, với một số thuốc trúng thầu nhưng không được sử dụng, hoặc được sử dụng dưới 80% nhu cầu. Những vấn đề này cần cải thiện quản lý để nâng cao hiệu quả điều trị.

4.1. Vấn đề sử dụng thuốc hạng A và thuốc không thuộc Thông tư 40

Thuốc hạng A tại bệnh viện chiếm phần lớn chi phí điều trị nhưng một số không nằm trong Thông tư 40. Điều này gây ra các thách thức trong thanh toán bảo hiểm y tếkiểm soát chất lượng. Một số thuốc nhập khẩu đắt tiền được sử dụng nhưng không có bằng chứng lâm sàng mạnh mẽ. Cần xem xét lại danh mục để loại bỏ các thuốc không cần thiết, thay thế bằng những thuốc hiệu quả hơnhợp quy định. Cải thiện sự tuân thủ với các hướng dẫn quốc gia là ưu tiên hàng đầu.

4.2. Vấn đề sử dụng so với danh mục trúng thầu

Một vấn đề đáng lưu ý là sự không khớp giữa danh mục sử dụng thực tế và danh mục trúng thầu. Một số thuốc trúng thầu có số lượng tương ứng nhưng không được sử dụng, gây lãng phí tài chính. Ngược lại, một số thuốc được sử dụng lại không thuộc danh mục trúng thầu hoặc chỉ được sử dụng dưới 80% cam kết, dẫn đến tăng chi phíphức tạp quản lý. Cần phối hợp tốt hơn giữa các bộ phận lâm sàng và dược để đảm bảo danh mục thuốc phản ánh nhu cầu thực tế của bệnh viện.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả là một trong những yêu cầu cấp thiết trong hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, trong đó hoạt động cung ứng thuốc đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động này đang là vấn đề bất cập của nhiều Bệnh viện. Nguyên nhân có thể xảy ra ngay tại các giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc mà hoạt động lựa chọn danh mục thuốc, là hoạt động đầu tiên trong chu trình có ý nghĩa quyết định. Vì vậy, xây dựng danh mục thuốc là một bước then chốt và có vai trò quan trọng, không chỉ tiết kiệm chi phí và sử dụng hợp lý nguồn tài chính mà còn cải thiện chất lượng chăm sóc y tế trong bệnh viện.

Theo một số nghiên cứu, kinh phí mua thuốc chiếm khoảng 30-40% ngân sách ngành y tế của nhiều nước và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả [28]. Tại Việt Nam, theo thống kê nhiều năm cho thấy tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện thường chiếm 60% ngân sách của bệnh viện [12]. Bên cạnh đó, thị trường thuốc ngày càng phong phú cả về số lượng và chủng loại, theo số liệu của Cục Quản lý Dược, hiện có khoảng 22615 số đăng ký thuốc lưu hành còn hiệu lực, trong đó có khoảng 11923 số đăng ký thuốc nước ngoài và 10692 số đăng ký thuốc sản xuất trong nước [13] với tỉ lệ hoạt chất trên số đăng ký của thuốc có nguồn gốc trong nước và nhập khẩu lần lượt là 3,95%; 6,24% [2], vấn đề đặt ra cho các cơ sở khám chữa bệnh là xây dựng một danh mục thuốc phù hợp với nhu cầu điều trị đảm bảo chất lượng, an toàn, hiệu quả. Với vai trò là Bệnh viện tuyến chuyên khoa đầu ngành về khám bệnh, cấp cứu, chữa bệnh trong chuyên ngành phụ khoa- sản khoa, yêu cầu về chất lượng điều trị cũng như kết quả điều trị của Bệnh viện Phụ Sản TW được đặt lên hàng đầu.

Do đó, cần đòi hỏi một DMT đáp ứng được nhu cầu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả. Tuy nhiên, việc xây dựng một DMT hợp lý gặp rất nhiều khó khăn và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, việc xác định những bất cập này là cần thiết nhằm đưa ra những phương thức điều chỉnh hợp lý và là cơ sở để HĐT&ĐT xây dựng DMT năm tiếp theo, đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn và đạt chi phí-hiệu quả. Hàng năm bệnh viện sử dụng một lượng thuốc lớn phục vụ công tác khám chữa bệnh.Vấn đề đặt ra là: Thực trạng Danh 1 mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện hiện nay như thế nào? Có vấn đề gì tồn tại trong Danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện hay không? Để trả lời các câu hỏi trên, đề tài “Phân tích Danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Phụ sản TW năm 2017” được thực hiện với 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả cơ cấu Danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Phụ Sản TW năm 2017.

Phân tích một số vấn đề trong Danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Phụ sản TW năm 2017. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm cơ sở cho HĐT&ĐT xây dựng, lựa chọn DMT cho những năm tiếp theo đáp ứng cho nhu cầu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả. Danh mục thuốc dùng trong bệnh viện. Định nghĩa danh mục thuốc bệnh viện Lựa chọn thuốc là công việc quan trọng trong chu trình cung ứng thuốc, là việc xác định chủng loại thuốc cho bệnh viện.

Mỗi bệnh viện sẽ xây dựng một danh mục thuốc (DMT) đặc thù riêng cho mình, Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện [7]. Theo WHO định nghĩa: “DMT bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện” [29]. Danh mục thuốc bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả. Danh mục thuốc bệnh viện được xây dựng hàng năm và có thể bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong danh mục thuốc bệnh viện trong các kỳ họp của HĐT&ĐT.

Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 21/2013/TT-BYT Quy định về tổ chức và hoạt động của HĐT&ĐT [7] giúp hỗ trợ cho hoạt động này. Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc: Căn cứ vào DMT thiết yếu, DMT chủ yếu và các quy định về sử dụng DMT do Bộ Y tế ban hành, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật (MHBT) và kinh phí của bệnh viện (ngân sách nhà nước, nguồn quỹ BHYT, nguồn thu từ các dịch vụ khám chữa bệnh và các nguồn thu hợp pháp khác) HĐT&ĐT có nhiệm vụ giúp Giám đốc bệnh viện lựa chọn, xây dựng DMT bệnh viện theo nguyên tắc sau [7]: - Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện. - Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện, dựa trên các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám chữa bệnh. - Đáp ứng với các phương pháp, kỹ thuật mới trong điều trị, phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện.

3 - Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước. - Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành. -Căn cứ vào hướng dẫn, phác đồ điều trị -Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện 1. Tiêu chí lựa chọn thuốc.

Việc lựa chọn thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình bệnh tật, trang thiết bị điều trị, kinh nghiệm và trình độ của đội ngũ cán bộ, các nguồn lực tài chính, các yếu tố môi trường, địa lý và di truyền. Theo Bộ Y Tế, có 7 tiêu chí để lựa chọn thuốc đưa vào DMT Bệnh viện như sau : -Chỉ chọn các thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, độ an toàn thông qua các thử nghiệm lâm sàng và trên thực tế sử dụng rộng rãi tại các cơ sở khám chữa bệnh. - Thuốc được lựa chọn phải có sẵn ở dạng bào chế đảm bảo sinh khả dụng, cũng như sự ổn định về chất lượng trong điều kiện bảo quản và sử dụng nhất định. - Khi có hai hay nhiều hơn hai thuốc tương đương nhau về hai tiêu chí trên thì cần phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố như hiệu quả điều trị, độ an toàn, giá cả và khả năng cung ứng - Phân tích chi phí hiệu quả - Ưu tiên thuốc dạng đơn chất - Ưu tiên thuốc Generic hoặc tên chung quốc tế - Trong một số trường hợp, sự lựa chọn còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc cân nhắc những dặc điểm tại địa phương như trang thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng.

Vai trò của Hướng dẫn điều trị trong việc xây dựng DMT Hướng dẫn điều trị là văn bản chuyên môn có tính pháp lý, nó được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu, trong điều trị mỗi loại bệnh. Một hướng dẫn điều trị có thể có một hoặc nhiều công thức khác nhau [11]. Theo WHO, việc lựa chọn liệu pháp điều trị thích hợp, lựa chọn thuốc đạt chi phí – hiệu quả sẽ mang lại kết quả tốt trong chăm sóc sức khỏe. Cần có sự thống nhất giữa 4 DMT và HDĐT, việc chỉ tuân thủ DMT một cách nghiêm ngặt sẽ không cải thiện được thực hành điều trị nếu lựa chọn thuốc không dựa trên HDĐT.

Do vậy, DMTBV nên được xây dựng dựa trên HDĐT, có thể dựa trên HDĐT tại các nước có nền y học phát triển với mô hình HDĐT quốc gia và các phác đồ điều trị chuẩn khác. Thuốc có mặt trong HDĐT thường là thuốc thiết yếu, thuốc không thiết yếu hoặc thuốc bị hạn chế về số lượng chỉ dành cho những bệnh nhân có yêu cầu điều trị đặc biệt [28]. Để có được HDĐT, HĐT&ĐT có thể xây dựng hướng dẫn điều trị mới ngay từ ban đầu, tuy nhiên đây là một công việc khó khăn và tốn nhiều thời gian, chỉ thích hợp với nhiều Bệnh viện lớn. Thay vào đó, HĐT&ĐT có thể ứng dụng các HDĐT sẵn có của quốc gia hoặc HDĐT của các tổ chức khác điều chỉnh cho phù hợp với Bệnh viện, hoặc đơn giản là sử dụng HDĐT của tổ chức khác.

Do đó việc áp dụng HDĐT nào phụ thuộc vào từng Bệnh viện và phải phù hợp với nhu cầu điều trị của Bệnh viện đó. HDĐT có vai trò rất quan trọng trong xây dựng và sử dụng DMT hợp lý, đảm bảo hiệu quả điều trị. Tuy nhiên, việc có một DMT lý tưởng thì vấn đề sử dụng DMT không hợp lý vẫn có thể xảy ra. HDĐT chuẩn là một bằng chứng và chiến lược hiệu quả giúp kê đơn thuốc phù hợp với tình trạng lâm sàng.

Tại Việt Nam việc xây dựng DMTBV chủ yếu dựa vào DMT đã sử dụng năm trước, DMT chủ yếu của Bộ Y tế và kinh nghiệm của bác sĩ nhưng chưa có đánh giá cụ thể. Căn cứ đơn thuần dựa trên con số cơ học chưa chú ý đến chất lượng danh mục, phác đồ điều trị và HDĐT nên còn thiếu căn cứ khoa học. Kết quả là, với số lượng hoạt chất quá đa dạng với nhiều biệt dược được sử dụng gây khó khăn cho việc lựa chọn đúng thuốc đảm bảo chi phí - hiệu quả [26]. Theo nghiên cứu của Hoàng Hồng Hải (2008), Vũ Thị Bích Hạnh (2010) cho thấy các Bệnh viện vẫn chưa xây dựng phác đồ điều trị chuẩn, các bác sĩ chủ yếu điều trị theo kiến thức và kinh nghiệm của mình [19].Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài.

 Luật Dược 105/2016/QH13 – Ban hành ngày 06/04/2016 [21]. Qui định sử dụng thuốc SXTT thay thế thuốc nhập khẩu. Điều 7 quy định một số chính sách nhà nước về dược bao gồm: đối với việc đấu thầu thuốc: không chào thuốc nhập khẩu thuộc danh mục do BYT ban hành trên cơ sở 5 nhóm tiêu chí kỹ thuật khi thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp, ưu tiên mua thuốc generic  Thông tư 22/2011/TT-BYT ban hành ngày 10/06/2011 [10].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ