Luận văn Thạc sỹ Vương Minh Việt: Phân tích danh mục thuốc tại Bệnh viện 108

Luận văn thạc sỹ Dược học phân tích chi tiết danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện 108 năm 2017, đánh giá theo phương pháp ABC và VEN.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Dược học

2019

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phân tích danh mục thuốc tại Bệnh viện 108 năm 2017

Phân tích danh mục thuốc tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2017 là một nghiên cứu khoa học quan trọng nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc trong cơ sở y tế. Đây là luận văn thạc sỹ dược học của Vương Minh Việt từ Trường Đại học Dược Hà Nội, được hoàn thành năm 2019. Nghiên cứu này tập trung vào cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng, phân tích chi tiết các loại thuốc tân dược, thuốc đông y và thuốc từ dược liệu. Bằng cách áp dụng các phương pháp phân tích chuyên sâu như ABC/VEN, nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về mẫu sử dụng thuốc, giúp các nhà quản lý y tế đưa ra quyết định tốt hơn về quản lý dượctối ưu hóa chi phí y tế.

1.1. Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm phân tích và đánh giá danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện trong năm 2017. Mục tiêu chính là hiểu rõ cơ cấu thuốc, nguồn gốc xuất xứ, và mức độ sử dụng từng loại. Kết quả giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe, kiểm soát chi phí thuốc, và đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý theo tiêu chuẩn WHO.

1.2. Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 là một cơ sở y tế hàng đầu, là nơi thực hiện nghiên cứu. Bệnh viện này sử dụng danh mục thuốc đa dạng để điều trị nhiều loại bệnh lý khác nhau. Việc phân tích danh mục thuốc tại đây cung cấp dữ liệu quý báu cho lĩnh vực tổ chức quản lý dượcnâng cao hiệu quả điều trị.

II. Phương pháp phân tích danh mục thuốc

Nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp phân tích khác nhau để đánh giá danh mục thuốc một cách toàn diện. Phương pháp ABC phân loại thuốc theo giá trị sử dụng, chia thành ba hạng: A (20% khoản mục nhưng 80% giá trị), B (30% khoản mục, 15% giá trị), C (50% khoản mục, 5% giá trị). Phương pháp VEN phân loại dựa trên mức độ cần thiết: V (Vital - cần thiết), E (Essential - thiết yếu), N (Non-essential - không thiết yếu). Kết hợp ABC/VEN cho phép quản lý thuốc hiệu quả hơn. Ngoài ra, nghiên cứu còn phân tích theo nhóm tác dụng dược lý, theo nguồn gốc xuất xứ, và theo đường dùng.

2.1. Phương pháp phân tích ABC

Phân tích ABC là công cụ quản lý hiệu quả, giúp xác định những thuốc có tác động lớn nhất đến chi phí thuốc. Hạng A bao gồm các thuốc thiết yếu có giá trị cao, cần được quản lý chặt chẽ. Phương pháp này hỗ trợ tối ưu hóa danh mục thuốc và cải thiện hiệu quả sử dụng tài nguyên.

2.2. Phương pháp phân tích VEN

Phân tích VEN tập trung vào tính cần thiết của thuốc trong điều trị bệnh lý. Thuốc Vital là những loại không thể thiếu, Essential là cần thiết nhưng có thể thay thế, Non-essential là tùy chọn. Kết hợp với ABC, phương pháp này giúp quản lý danh mục thuốc một cách khoa học và hiệu quả.

III. Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng năm 2017

Danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2017 bao gồm thuốc tân dượcthuốc đông y, thuốc từ dược liệu. Trong thuốc tân dược, các nhóm tác dụng dược lý chính bao gồm thuốc tim mạch, kháng sinh, thuốc hệ tiêu hóa, và thuốc hệ thần kinh. Về nguồn gốc, thuốc sản xuất trong nướcthuốc nhập khẩu được sử dụng song song. Các thuốc generic chiếm tỷ lệ đáng kể so với thuốc biệt dược gốc. Trong đó, thuốc tiêm là nhóm có giá trị sử dụng cao nhất. Cơ cấu danh mục thuốc này phản ánh nhu cầu điều trị đa dạng và chiến lược quản lý dược hiện đại của bệnh viện.

3.1. Phân loại theo thuốc tân dược và đông y

Thuốc tân dược chiếm phần lớn trong danh mục thuốc sử dụng, được phân loại theo nhóm tác dụng dược lý cụ thể. Thuốc đông y và dược liệu được sử dụng bổ sung, phù hợp với điều trị kết hợp của bệnh viện. Sự kết hợp này giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trịtăng sự chấp nhận của bệnh nhân.

3.2. Phân loại theo nguồn gốc và dạng bào chế

Nghiên cứu cho thấy sự cân bằng giữa thuốc sản xuất trong nướcthuốc nhập khẩu. Thuốc generic được ưu tiên để giảm chi phí điều trị, trong khi thuốc biệt dược gốc được sử dụng cho những trường hợp cần thiết. Đường dùng tiêm là chính, phản ánh tính chất cấp cứu của bệnh viện quân đội.

IV. Kết quả phân tích ABC VEN và hàm ý quản lý

Kết quả phân tích ABC/VEN cho thấy thuốc hạng A bao gồm các loại thuốc thiết yếu, cần thiết (V) hoặc thiết yếu (E), cần được quản lý tập trungđảm bảo cung cấp liên tục. Những thuốc này có giá trị cao và tác động lớn đến chi phí y tếchất lượng điều trị. Một số loại thuốc cùng hoạt chất được sử dụng ở các hạng khác nhau, cho thấy cơ hội hợp nhất danh mục để giảm chi phícải thiện hiệu quả quản lý. Hàm ý quản lý bao gồm cần tập trung nguồn lực vào nhóm A, tối ưu hóa danh mục bằng cách loại bỏ dự phòng không cần thiết, và nâng cao chất lượng sử dụng thuốc theo tiêu chuẩn WHO.

4.1. Phân tích thuốc hạng A và hàm ý quản lý

Thuốc hạng A đòi hỏi quản lý chặt chẽ, bao gồm kiểm soát tồn kho, đảm bảo cung cấp ổn định, và theo dõi sử dụng. Những quyết định mua sắm cần phân tích kỹ lưỡng về nhu cầu thực tế. Các bệnh viện nên tập trung vào nhóm này để tối ưu hóa hiệu quả chi tiêunâng cao chất lượng điều trị.

4.2. Gợi ý cải thiện danh mục thuốc

Cần hợp nhất những thuốc cùng hoạt chất để giảm chi phí mua sắmđơn giản hóa quản lý. Đánh giá lại các thuốc hạng C để xóa bỏ những loại ít sử dụng hoặc không hiệu quả. Tăng cường sử dụng thuốc generic để tiết kiệm chi phí. Định kỳ cập nhật danh mục thuốc dựa trên nhu cầu lâm sàng thực tế.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I. QUY ĐỊNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ 1. Quy định sử dụng thuốc Việc sử dụng thuốc không hiệu quả và bất hợp lí là một vấn đề có phạm vi ảnh hưởng rộng ở khắp mọi cấp độ chăm sóc y tế. Việc dùng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lí trong bệnh viện là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh trong bối cảnh các nguồn lực ngày càng trở nên khan hiếm và thầy thuốc kê đơn trong cộng đồng thường có thói quen sao chép lại các đơn thuốc dùng trong bệnh viện [28] do vậy cần thiết có sự đánh giá rà soát lại danh mục đã được sử dụng của năm trước.

Việc quản lý danh mục thuốc là rất quan trọng, có ảnh hưởng tới chất lượng chăm sóc y tế. Một danh mục thuốc cần bao gồm các thuốc an toàn, hợp lí, hiệu quả nhất về chi phí và sẵn có với chất lượng bảo đảm đáp ứng được các nhu cầu về chăm sóc sức khỏe y tế của đông đảo người bệnh [28]. Việc sử dụng thuốc hiện nay đã được quy định rõ ràng. Một số văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của các tổ chức có trách nhiệm quản lý sử dụng thuốc.

Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định về chức năng hoạt động của khoa Dược. Đây là khoa có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc về toàn bộ công tác Dược trong bệnh viện, nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý. Như vậy, khoa Dược đóng vai trò chủ đạo và là đầu mối trong quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện [3]. Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế quy định về hoạt động của HĐT&ĐT [8].

Thông tư nêu rõ chức năng của HĐT&ĐT là tư vấn cho Giám đốc về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện. Theo đó, Hội đồng có 6 nhiệm 3 vụ cơ bản: - Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc. - Xây dựng DMT bệnh viện. - Xây dựng và thực hiện các hướng dẫn điều trị.

- Xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc. - Giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các sai sót trong điều trị. - Thông báo, kiểm soát thông tin về thuốc. HĐT&ĐT đóng vai trò điều phối, xử lý các vấn đề sử dụng thuốc trong đó quan trọng nhất là xây dựng và quản lý DMT bệnh viện.

Một số văn bản hướng dẫn thực hiện các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc: Thông tư số 40/2014/TT-BYT ngày 17/11/2014 của Bộ Y tế (sau đây gọi tắt là TT40) về việc ban hành và hướng dẫn thực hiện DMT tân Dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế. Thông tư quy định 845 hoạt chất, 1064 thuốc tân Dược và 57 thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu nằm trong phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiêm y tế, đồng thời phân thành 27 nhóm tác dụng Dược lý [9]. Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ Y tế (sau đây gọi tắt là TT05) Ban hành Danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế Thông tư số 01/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 19/01/2012 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn một số nội dung cụ thể trong đấu thầu mua sắm thuốc tại các đơn vị có sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, quỹ BHYT và các nguồn thu hợp pháp khác phục vụ nhu cầu phòng, khám và chữa bệnh để đảm bảo phù hợp với tính chất đặc thù của thuốc theo quy định của luật Dược. Thông tư quy định rõ tiêu chí để phân chia thành các gói thuốc trong đấu thầu.

Cụ thể, thuốc đấu thầu được chia làm 3 gói: Gói thuốc generic, gói thuốc biệt Dược và gói thuốc y học cổ truyền [6]. 4 Gói thầu thuốc generic: Bao gồm các thuốc tân Dược được sản xuất trong và ngoài nước. Trong gói này chia thành các nhóm thuốc dựa trên tiêu chí kỹ thuật và tiêu chuẩn công nghệ được cấp phép như sau: - Nhóm PIC/ICH: Thuốc sản xuất trên dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/s-GMP tại cơ sở sản xuất thuộc nước tham gia ICH và Australia; Thuốc sản xuất trên dây chuyền sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn WHO-GMP do Bộ Y tế Việt Nam cấp giấy chứng nhận và được cơ quan quản lý quốc gia có thẩm quyền cấp phép lưu hành tại nước tham gia ICH hoặc Australia; - Nhóm Non PIC/ICH: Thuốc sản xuất trên dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc PIC/s-GMP Nhưng không thuộc nước tham gia ICH và Australia; - Nhóm GMP- WHO: Thuốc sản xuất trên dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn WHO-GMP được Bộ Y tế Việt Nam cấp giấy chứng nhận; - Nhóm tương đương sinh hoc: Thuốc có chứng minh tương đương sinh học do Bộ Y tế công bố; - Nhóm còn lại: Thuốc không đáp ứng tiêu chí của các nhóm 1, 2, 3 và 4 Gói thầu thuốc biệt Dược gốc hoặc tương đương điều trị: bao gồm các thuốc biệt Dược gốc thuộc DMT biệt Dược gốc do Bộ Y tế công bố. Gói thầu thuốc cổ truyền: Bao gồm thuốc cổ truyền, thuốc Dược liệu được sản xuất do Bộ Y tế Việt Nam cấp giấy chứng nhận.

Thông tư số 11/2016/TT-BYT ngày 5/11/2016 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn một số nội dung cụ thể trong đấu thầu mua sắm thuốc tại các đơn vị có sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, quỹ BHYT và các nguồn thu hợp pháp khác phục vụ nhu cầu phòng, khám và chữa bệnh để đảm bảo phù hợp với tính chất đặc thù của thuốc theo quy định của luật Dược [11]. Thông tư số 10/2016/TT-BYT ngày 05/5/2016 của Bộ Y tế ban hành DMT sản xuất trong nước đáp ứng nhu cầu điều trị, giá thuốc và khả năng 5 cung ứng. Danh mục được xây dựng trên nguyên tắc các thuốc sản xuất tại các đơn vị trong nước đáp ứng tiêu chí kỹ thuật, giá cả hợp lý và có khả năng đảm bảo cung cấp cho các cơ sở điều trị trên cả nước. Trên nguyên tắc đó, các mặt hàng thuốc đưa vào danh mục phải đáp ứng tất cả tiêu chí sau [12]: - Thuốc thuộc DMT đấu thầu; - Đã có tối thiểu từ 03 số đăng ký của của 03 nhà sản xuất trong nước theo nhóm tiêu chí kỹ thuật; - Giá của thuốc sản xuất trong nước không cao hơn so với thuốc nhập khẩu có tiêu chí kỹ thuật tương đương; - Đảm bảo khả năng cung ứng thuốc cho các cơ sở y tế khi không mua thuốc nhập khẩu sản xuất tại cơ sở có tiêu chí kỹ thuật tương đương với thuốc sản xuất trong nước; - Thông tư quy định 146 thuốc mà các cở sở trong nước đã đáp ứng tiêu chí trên vì vậy đối với các thuốc này đơn vị khám chữa bệnh nên ưu tiên sử dụng nhóm hàng sản xuất trong nước.

Dự thảo thông tư thay thế thông tư 11/2016/TT-BYT: Bộ Y tế đã ra dự thảo thông tư thay thế cho thông tư 11/2016/TT-BYT trong đó ban hành 101 thuốc biệt dược gốc đã hết hạn bảo hộ, có lớn hơn 3 thuốc thuộc nhóm I (PIC+ICH) được cấp giấy đăng ký lưu hành đáp ứng yêu cầu điều trị. Những thuốc này yêu cầu cơ sở khám chữa bệnh dự trù và đấu thầu để sử dụng ở nhóm I (PIC+ICH), không đấu thầu tại nhóm biệt dược gốc. Hệ thống văn bản trên chính là cơ sở pháp lý, là công cụ quan trọng để các bệnh viện và đơn vị liên quan quản lý sử dụng thuốc an toàn hiệu quả, hợp lý. Các phương pháp phân tích đánh giá DMT cung ứng trong bệnh viện là một tiền đề quan trọng cho việc sử dụng hợp lý, an toàn thuốc tại các khoa lâm sàng.

Chỉ những thuốc thực sự cần thiết mới được đưa vào danh mục, tránh đưa những thuốc không có hiệu quả điều trị vào trong danh mục vì có nhiều thuốc trong danh mục sẽ khó 6 kiểm soát và có thể gây hại cho người bệnh. Để đánh giá trực tiếp vấn đề sử dụng thuốc trong bệnh viện, người ta sử dụng các phương pháp phân tích DMT đã sử dụng trong bệnh viện. Theo WHO bước đầu tiên để giải quyết các vấn đề sử dụng thuốc chưa hợp lý đó là xác định vấn đề, phân tích và tìm hiểu nguyên nhân của các vấn đề đó [34]. Có 4 phương pháp chính để nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc: Phương pháp thu thập số liệu tổng hợp: Bao gồm các số liệu không liên quan trực tiếp đến từng bệnh nhân cụ thể và có thể thu thập tương đối dễ dàng.

Các phương pháp như phân tích ABC, phân tích VEN và phương pháp DDD thường sử dụng để nhận định những vấn đề lớn trong sử dụng thuốc. Nghiên cứu các chỉ số về thuốc: Là phương pháp thu thập số liệu ở từng bệnh nhân nhưng không thường xuyên bao gồm các thông tin cần thiết để đánh giá việc sử dụng thuốc điều trị phù hợp với chẩn đoán. Những số liệu này có thể được thu thập bởi những người không trực tiếp kê đơn và được sử dụng để nhận định những vấn đề về sử dụng thuốc chăm sóc bệnh nhân và đưa ra những biện pháp can thiệp để giải quyết vấn đề. Phương pháp định tính: Thảo luận nhóm có trọng tâm, phỏng vấn sâu, quan sát và đặt câu hỏi có chọn lọc thường được sử dụng để nhận định nguyên nhân của vấn đề.

Đánh giá sử dụng thuốc: Là một hệ thống những đánh giá liên tục về sử dụng thuốc dựa trên các tiêu chuẩn, giúp cho việc đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý ở trên từng cá thể người bệnh. Phương pháp này đòi hỏi những phân tích chi tiết ở từng bệnh nhân cụ thể. Trong đó phương pháp phân tích dữ liệu tổng hợp sử dụng thuốc sẽ mang lại một bức tranh toàn cảnh về sử dụng thuốc và hữu ích trong việc quản lý DMT. Các dữ liệu tổng hợp có thể sử dụng để làm cơ sở khi tiến hành các phương pháp phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị, phân tích VEN … Tất cả các phương pháp này đều là công cụ hết sức hữu hiệu mà HĐT&ĐT 7 nên sử dụng để quản lý DMT và phát hiện các vấn đề sử dụng thuốc.

Dữ liệu tổng hợp về sử dụng thuốc có thể thu thập được từ nhiều nguồn trong hệ thống y tế bao gồm các chứng từ mua bán thuốc, chứng từ lưu kho, báo có số lượng xuất nhập tồn … HĐT&ĐT nên áp dụng thường xuyên cả 4 phương pháp này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ