Luận văn: Phân tích danh mục thuốc tại BV Quận 7 năm 2017 - Lê Thanh Nhã

Luận văn phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Quận 7 năm 2017. Tài liệu đánh giá cơ cấu thuốc theo phương pháp ABC/VEN và giá trị sử dụng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Dược sĩ Chuyên khoa Cấp I

2019

76
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về danh mục thuốc Bệnh viện Quận 7 năm 2017

Danh mục thuốc Bệnh viện Quận 7 năm 2017 là một nghiên cứu toàn diện về cơ cấu và sử dụng thuốc tại một trong những bệnh viện lớn của Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn của Lê Thanh Nhã từ Trường Đại học Dược Hà Nội đã thực hiện phân tích chi tiết về danh mục thuốc bệnh viện, giúp cải thiện quản lý dược và tối ưu hóa chi phí y tế. Nghiên cứu này áp dụng các phương pháp phân tích tiên tiến như phương pháp ABC/VEN để đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc. Bệnh viện Quận 7 với cơ cấu tổ chức hiện đại và hoạt động khám chữa bệnh đa chuyên khoa đã cung cấp dữ liệu quý báu cho nghiên cứu này. Phân tích danh mục thuốc không chỉ giúp hiểu rõ thực trạng mà còn đưa ra các kiến nghị quản lý dược hiệu quả hơn.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng danh mục thuốc

Danh mục thuốc bệnh viện là danh sách những thuốc được phép sử dụng tại cơ sở y tế, được xây dựng dựa trên nhu cầu điều trị và hướng dẫn từ Bộ Y tế. Danh mục thuốc giúp chuẩn hóa điều trị, giảm chi phí, và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Tại Bệnh viện Quận 7, danh mục được xây dựng phù hợp với mô hình bệnh tật và tình hình sử dụng thuốc của địa phương.

1.2. Phương pháp phân tích ABC VEN

Phương pháp phân tích ABC phân loại thuốc theo giá trị sử dụng (A: cao, B: trung bình, C: thấp), trong khi phương pháp VEN phân loại theo mức độ cần thiết (V: vital-thiết yếu, E: essential-cần thiết, N: non-essential-không cần thiết). Kết hợp ma trận ABC/VEN giúp Bệnh viện Quận 7 quản lý thuốc một cách khoa học và hiệu quả hơn.

II. Cơ cấu và thành phần danh mục thuốc năm 2017

Nghiên cứu phân tích danh mục thuốc Bệnh viện Quận 7 đã khảo sát toàn bộ thuốc sử dụng trong năm 2017, bao gồm các thuốc theo nhóm tác dụng dược lý, nguồn gốc xuất xứ, và đường dùng. Cơ cấu danh mục thuốc được phân loại chi tiết giúp nhân viên dược và bác sĩ dễ dàng tra cứu và lựa chọn thuốc phù hợp. Kinh phí thuốc sử dụng được thống kê và phân tích để đánh giá hiệu quả chi tiêu. Danh mục thuốc bệnh viện năm 2017 phản ánh đặc điểm dịch tễ học và nhu cầu điều trị của khu vực Quận 7 và vùng phụ cận. Công tác quản lý danh mục thuốc đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo an toàn dùng thuốc.

2.1. Cơ cấu theo nhóm tác dụng dược lý

Danh mục thuốc được phân loại theo các nhóm tác dụng như: kháng sinh, thuốc tim mạch, thuốc hô hấp, và thuốc tiêu hóa. Phân loại này giúp quản lý danh mục thuốc trở nên có hệ thống. Tại Bệnh viện Quận 7, các nhóm thuốc được cân đối để đáp ứng nhu cầu điều trị đa dạng của bệnh nhân.

2.2. Cơ cấu theo nguồn gốc và đường dùng

Phân tích danh mục thuốc bao gồm so sánh giữa thuốc nhập khẩuthuốc sản xuất trong nước, cũng như thuốc biệt dược gốcgeneric. Cơ cấu thuốc theo đường dùng (uống, tiêm, mỡ mắt) giúp tối ưu hóa liệu pháp điều trị tại Bệnh viện Quận 7.

III. Kết quả phân tích ABC VEN danh mục thuốc

Kết quả phân tích danh mục thuốc theo ma trận ABC/VEN tại Bệnh viện Quận 7 năm 2017 cho thấy sự phân bổ thuốc khác nhau. Nhóm thuốc AV (cao giá trị, thiết yếu) cần được kiểm soát chặt chẽ và có số lượng lớn trong kinh phí. Nhóm thuốc BN (giá trị trung bình, không thiết yếu) có thể được xem xét giảm bớt. Phương pháp phân tích này giúp lãnh đạo Bệnh viện Quận 7 xác định ưu tiên đầu tư và quản lý kho dược hiệu quả. Danh mục thuốc được rà soát và điều chỉnh dựa trên kết quả phân tích. Các thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần được quản lý đặc biệt theo quy định của pháp luật.

3.1. Phân loại theo giá trị sử dụng ABC

Thuốc nhóm A chiếm 80% giá trị nhưng chỉ khoảng 20% số lượng, yêu cầu quản lý danh mục chặt chẽ. Danh mục thuốc nhóm A tại Bệnh viện Quận 7 thường là những thuốc đắt tiền, cần theo dõi kỹ lưỡng. Nhóm C có số lượng lớn nhưng giá trị thấp, có thể quản lý lỏng lẻo hơn.

3.2. Phân loại theo mức độ cần thiết VEN

Thuốc Vital là những thuốc cứu mạng, không thể thiếu trong danh mục dược bệnh viện. Thuốc Essential hỗ trợ điều trị hiệu quả. Thuốc Non-essential có thể thay thế được. Phân tích VEN tại Bệnh viện Quận 7 giúp xác định độ ưu tiên của từng loại thuốc trong danh mục.

IV. Kiến nghị quản lý danh mục thuốc bệnh viện

Dựa trên kết quả phân tích danh mục thuốc năm 2017, luận văn của Lê Thanh Nhã đã đưa ra nhiều kiến nghị quan trọng cho Bệnh viện Quận 7 và các bệnh viện tương tự. Danh mục thuốc cần được rà soát định kỳ hàng năm để phù hợp với nhu cầu điều trị thực tế. Cải thiện hệ thống quản lý kho dược với công nghệ thông tin hiện đại sẽ giúp theo dõi tồn kho và hạn chế lãng phí. Tăng cường đào tạo nhân viên dược về quản lý danh mục thuốc và sử dụng phương pháp ABC/VEN. Danh mục thuốc cần cân bằng giữa chi phí và chất lượng điều trị.

4.1. Cải thiện quy trình xây dựng danh mục

Danh mục thuốc bệnh viện nên được xây dựng với sự tham gia của Hội đồng thuốc và điều trị, bác sĩ, và dược sĩ. Sử dụng dữ liệu từ phân tích danh mục năm trước để dự báo nhu cầu năm tiếp theo. Danh mục thuốc tại Bệnh viện Quận 7 cần liên kết với các hướng dẫn lâm sàng và thuốc thiết yếu WHO.

4.2. Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng

Áp dụng phương pháp ABC/VEN thường xuyên cho danh mục thuốc bệnh viện. Giám sát việc sử dụng thuốc gây nghiện và hướng thần. Đánh giá định kỳ danh mục dược để loại bỏ những thuốc không còn nhu cầu, thay thế bằng thuốc mới hiệu quả hơn, giá rẻ hơn.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1.Tổng quan về danh mục thuốc bệnh viện 1. Xây dựng danh mục thuốc bệnh viện 1. Nguyên tắc xây dựng danh mục - Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện; - Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật; - Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; - Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; - Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện; - Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc do Bộ Y tế ban hành; - Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước.2 Tiêu chí lựa chọn thuốc. - Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy và hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng.

- Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp đảm bảo sinh khả dụng, ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định. - Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hiệu quả điều trị, sẵn có ở dạng bào chế thích hợp đảm bảo sinh khả dụng thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ thuật các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng. - Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác nhau về dạng bào chế, cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí-hiệu quả giữa các 3 thuốc với nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc. - Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất.

Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất. - Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể. - Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng [8]. Các bước xây dựng Xây dựng danh mục thuốc được thực hiện qua 4 bước sau : Bước 1.

Thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số lượng và giá trị sử dụng, phân tích ABC - VEN, thuốc kém chất lượng, thuốc hỏng, các phản ứng có hại của thuốc, các sai sót trong điều trị dựa trên các nguồn thông tin đáng tin cậy; Bước 2. Đánh giá các thuốc đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các khoa lâm sàng một cách khách quan; Bước 3. Xây dựng danh mục thuốc và phân loại các thuốc trong danh mục theo nhóm điều trị và theo phân loại VEN; Bước 4. Xây dựng các nội dung hướng dẫn sử dụng danh mục (ví dụ như: thuốc hạn chế sử dụng, thuốc cần hội chẩn, thuốc gây nghiện, hướng tâm thần,…).

Phương pháp phân tích danh mục thuốc 1.Phương pháp phân tích ABC 4 Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện. Phân tích ABC cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường. Thông tin này cũng được sử dụng để lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn hoặc tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế cũng như thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn. Các bước phân tích ABC: – Liệt kê các sản phẩm thuốc.

– Điền các thông tin sau mỗi sản phẩm thuốc: + Đơn giá của sản phẩm (sử dụng giá cho các thời điểm nhất định nếu sản phẩm có giá thay đổi theo thời gian); + Số lượng tiêu thụ của các sản phẩm thuốc tại bệnh viện. – Tính số tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm. Tổng số tiền sẽ bằng tổng của lượng tiền cho mỗi sản phẩm thuốc. – Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền.

– Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần. – Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm; bắt đầu với sản phẩm số 1, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách. – Phân hạng sản phẩm như sau: + Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 – 80 % tổng giá trị tiền; + Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 – 20 % tổng giá trị tiền; + Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5 – 10 % tổng giá trị tiền. – Thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10 – 20% tổng số sản phẩm, hạng B chiếm 10 – 20% và còn lại là hạng C chiếm 60 – 80% [8].

Phương pháp phân tích nhóm điều trị 5 Phân tích nhóm điều trị kết hợp với việc tính chi phí sử dụng thuốc giúp xác định những nhóm điều trị có mức sử dụng thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất. Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, phương pháp này sẽ gợi ý những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý. Phương pháp này cũng giúp hội đồng thuốc và điều trị xác định những thuốc bị lạm dụng và lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị. Các bước tiến hành phân tích nhóm điều trị: – Thiết lập danh mục thuốc bao gồm cả số lượng và giá trị: + Liệt kê các sản phẩm thuốc.

+ Điền các thông tin sau mỗi sản phẩm thuốc: Đơn giá của sản phẩm (sử dụng giá cho các thời điểm nhất định nếu sản phẩm có giá thay đổi theo thời gian); Số lượng tiêu thụ của các sản phẩm thuốc tại bệnh viện. + Tính số tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm. Tổng số tiền sẽ bằng tổng của lượng tiền cho mỗi sản phẩm thuốc. + Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền.

– Sắp xếp nhóm điều trị cho từng thuốc theo Danh mục thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế thế giới hoặc theo các tài liệu tham khảo khác như hệ thống phân loại Dược lý – Điều trị của hiệp hội Dược thư bệnh viện của Mỹ (AHFS) hoặc hệ thống phân loại Giải phẫu – Điều trị – Hóa học (ATC) của Tổ chức Y tế thế giới. – Sắp xếp lại danh mục thuốc theo nhóm điều trị và tổng hợp giá trị phần trăm của mỗi thuốc cho mỗi nhóm điều trị để xác định nhóm điều trị nào chiếm chi phí lớn nhất. Phương pháp phân tích VEN Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để 6 mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn. Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau: a) Thuốc V (Vital drugs) – là thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện.

b) Thuốc E (Essential drugs) – là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện. Thực trạng sử dụng thuốc tại BV ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, ngành Dược cũng có những bước tiến dài về mọi mặt. Thị trường dược phẩm thế giới và trong nước ngày càng được mở rộng với sự đa dạng phong phú cả về chủng loại và số lượng. Công nghiệp dược trong nước có sự phát triển đáng kể, đáp ứng khoảng 50% nhu cầu thuốc sử dụng [15].

Vì vậy cung ứng thuốc trong bệnh viện vừa có thêm nhiều thuận lợi vừa phải đối mặt với những thách thức mới. Sự phong phú của thị trường dược phẩm giúp các bệnh viện có cơ hội tiếp cận với những thuốc an toàn, chất lượng, có hiệu quả và kinh tế. Đồng thời sự đa dạng này cũng gây nên những lúng túng và cả tiêu cực trong các hoạt động lựa chọn thuốc không chỉ với các bệnh viện mà ngay cả trong cộng đồng [1]. Nhằm thực hiện tốt mục tiêu đảm bảo đủ thuốc cho nhân dân có chất lượng với giá hợp lý và đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả, Bộ Y tế đã ban hành một số văn bản quy chế giúp các bệnh viện dễ dàng hơn trong công tác lựa chọn xây dựng danh mục thuốc bệnh viện.

Danh mục thuốc thiết yếu 7 tân dược lần thứ VI ban hành theo thông tư số 45/2013/TT–BYT ngày 26/12/2013. Danh mục đã chuyển từ phân loại theo 04 tuyến (bệnh viện trung ương, bệnh viện thuộc tỉnh, thành phố, bệnh viện huyện, quận và trạm y tế xã) sang danh mục phù hợp với xếp hạng bệnh viện và các thông tin về nồng độ, hàm lượng, chỉ định sử dụng. Một thay đổi lớn so với các lần ban hành trước là thay vì lồng ghép danh mục thuốc đông y và thuốc từ dược liệu vào phần cuối của danh mục thuốc thiết yếu, Bộ Y tế đã tách ra và ban hành riêng danh mục thuốc thiết yếu đông y và thuốc từ dược liệu lần VI tại thông tư 40/2013/TT–BYT. Sự thay đổi này cho thấy chủ trương nâng cao vị thế đẩy mạnh việc sử dụng thuốc đông y và thuốc từ dược liệu [5,9,10].

Bộ Y tế cũng ban hành danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán của bảo hiểm y tế kèm theo thông tư số 40/2014/TT–BYT và danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán bảo hiểm y tế theo thông tư số 05/2015/TT–BYT góp phần giúp các bệnh viện lựa chọn danh mục thuốc phù hợp cho công tác khám chữa bệnh của đơn vị mình [14].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ