Chương 1: Cơ sở lí luận nghiên cứu cấu trúc, chức năng cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lí tài nguyên. - Chương 2: Phân tích cấu trúc cảnh quan huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. - Chương 3: Đánh giá đa chức năng cảnh quan và định hướng khai thác, sử dụng cảnh quan huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC, CHỨC NĂNG CẢNH QUAN PHỤC VỤ SỬ DỤNG HỢP LÍ TÀI NGUYÊN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1.
Các công trình nghiên cứu về cấu trúc và chức năng cảnh quan trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới a. Những công trình đầu tiên nghiên cứu về cảnh quan Các công trình địa lí đầu tiên chỉ là những ghi chép và mô tả về thiên nhiên, lịch sử và con người của các vùng đất khác nhau. Đến đầu thế kỉ XIX, nhà thiên nhiên học người Đức – Humboldt đã đặt nền móng cho các khoa học địa lí theo hướng nghiên cứu tổng hợp… Đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Địa lí học phát triển vượt bậc với hướng nghiên cứu chuyên sâu hơn.
Cùng thời gian đó, các học thuyết về CQ được hình thành và cùng phát triển độc lập ở hai nước Nga và Đức. Nhà địa lí học Xô Viết V.Docutraev đưa ra quan niệm về địa tổng thể, đề xuất hướng nghiên cứu toàn bộ thiên nhiên thống nhất toàn vẹn chứ không tách rời chúng ra từng phần. Ông là người đầu tiên trình bày tính đới như một quy luật thế giới và đã đưa ra học thuyết về các đới thiên nhiên. Tuy nhiên, người đưa thuật ngữ “cảnh quan” lần đầu tiên vào khoa học địa lí Xô Viết năm 1913 là L.
Becgơ - một trong số các học trò của Docutraev. Ông đã nêu lên rằng chính CQ là đối tượng nghiên cứu của địa lí. Học thuyết về CQ chỉ là một bước tiếp theo có tính chất tự nhiên trong sự phát triển học thuyết Docutraev về thể tổng hợp địa lí và học thuyết về các đới thiên nhiên. Sự hình thành khoa học ĐLTN hiện đại dựa trên cơ sở quan niệm về CQ là tổng hợp thể tự nhiên và ý nghĩa phương pháp luận của quan niệm này là sự tác động tương hỗ giữa các hợp phần tự nhiên.
Trong giai đoạn này, học thuyết về CQ vẫn chưa hoàn thiện. Tuy nhiên, 10 nghiên cứu CQ và công tác phân vùng ĐLTN bề mặt Trái Đất cũng được các nhà địa lý Đức, Anh, Mỹ, Pháp quan tâm giải quyết. Sau chiến tranh Thế giới thứ hai, cảnh quan học mới thực sự phát triển ở Liên Xô và CQ được coi như “một đơn vị cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới” (A. Những công trình nghiên cứu cảnh quan theo hướng phân tích cấu trúc Nhu cầu sử dụng tài nguyên không ngừng tăng lên.
Ngày càng nhiều dạng TNTN được đưa vào sản xuất, hình thành nhiều dạng sử dụng khác nhau. Vì vậy, khoa học CQ không dừng lại ở việc mô tả hình thái CQ, xác định đơn vị CQ mà phải tiến tới nghiên cứu cấu trúc, chức năng, đánh giá tổng hợp, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, SDHL tài nguyên và BVMT. Sự ra đời của “CQ học ứng dụng” phải kể đến công lao to lớn của A. Ixatxenko, tiêu biểu trong số các công trình của ông có “Địa lí học ngày nay” (1982), “Cảnh quan ứng dụng” (1983)… Nửa sau thế kỷ XX, CQ học đã có bước ngoặt trong việc nghiên cứu cấu trúc, chức năng và động lực, đi sâu vào nghiên cứu tính hoàn chỉnh, tính thứ bậc, tính tổ chức, cấu trúc - chức năng, trạng thái, tính bền vững.
của CQ, theo hướng này có thể tìm thấy trong công trình nghiên cứu của V. Nhờ các phương pháp định lượng, cấu trúc – động lực của các thể tổng hợp lãnh thổ được nghiên cứu đầy đủ. Glazovxkaia với phương pháp địa hóa, D.Armand dùng các phương pháp vật lý hiện đại để nghiên cứu mối tác động qua lại của các hợp phần thành tạo CQ. Từ 1970 đến những năm cuối 1990, CQ học thế giới có những bước phát triển vượt bậc.
Có nhiều công trình nghiên cứu về tính hoàn chỉnh, tính thứ bậc, tính tổ chức, chức năng, tính bền vững, trạng thái vận động, biến đổi của CQ. Các nhà nghiên cứu đặc biệt chú trọng xu hướng phát triển của CQ hiện đại dưới tác động kĩ thuật của con người. 11 Một hướng mới trong nghiên cứu CQ ứng dụng được sử dụng là sinh thái cảnh quan. Sinh thái CQ được phát triển từ những năm 1890, khi nó trở thành một khoa học độc lập.
Đánh dấu mốc là sự kiện Hiệp hội Sinh thái cảnh quan Quốc tế được thành lập (1982). Trong đó, các tác giả tiêu biểu là Naveh và Lieberman (“Sinh thái cảnh quan: lí thuyết và ứng dụng”, 1984) [52], Forman và Godron (“Sinh thái cảnh quan”, 1986) [39] đã có những chuyên khảo sâu về STCQ. Tiếp theo là Monica G. Turner (1987) [51] nghiên cứu về mối quan hệ phức tạp giữa CQ và sự biến đổi, tính bất đồng nhất của CQ có thể tăng cường hoặc làm chậm lại sự mở rộng trong các biến đổi đó.
Những công trình nghiên cứu về cấu trúc, chức năng CQ ngày càng xuất hiện nhiều. Điển hình như công trình của các tác giả: Niemann (1977), De Groot (1992), Troy và Wilson (2006), Meyer và Grabaum (2008). Những nghiên cứu này không chỉ coi cấu trúc và chức năng là đặc trưng quan trọng của sinh thái CQ, mà còn đánh giá ảnh hưởng của phân hóa cấu trúc đến chức năng CQ. Những công trình đi sâu phân tích, đánh giá chức năng cảnh quan Phân tích chức năng CQ là bước quan trọng sau bước phân tích cấu trúc CQ.
Tuy nhiên, so với rất nhiều công trình nghiên cứu về cấu trúc CQ, số lượng công trình nghiên cứu chức năng không nhiều. Trong nghiên cứu chức năng CQ, có bước tiến từ nghiên cứu chức năng CQ riêng biệt đến nghiên cứu đa chức năng CQ. Các nhà sinh thái CQ tiêu biểu của hướng nghiên cứu này là Niemann (1977), De Groot (1992, 2002), Costanza (1997), … Một trong những định nghĩa và hệ thống phân loại chức năng CQ đầu tiên được Niemann (1977) đưa ra. Trong hệ thống này, chức năng CQ được chia thành 3 cấp là cấp nhóm chức năng (các chức năng bậc 1), cấp chức năng chính (các chức năng bậc 2) và cấp chức năng phụ (các chức năng bậc 3) (dẫn theo Nguyễn An Thịnh [21], [22].
12 Một hệ thống phân chia chức năng CQ khác được De Groot (1992) nghiên cứu, sau đó Costanza (1997) và De Groot (2002) bổ sung, áp dụng chủ yếu cho các CQ tự nhiên và bán tự nhiên. Trong hệ thống này, chức năng CQ được chia thành 5 nhóm, bao gồm chức năng điều tiết, chức năng nơi sống, chức năng sản xuất, chức năng thông tin và chức năng giá thể [55]. Các khái niệm, quan điểm và hệ thống phân loại chức năng CQ này gần đây được áp dụng trong một số công trình nghiên cứu thực tiễn ở châu Âu. Bastian (1998) [53] đã xác định cơ sở khoa học và mục tiêu quản lý lãnh thổ dựa trên đánh giá chức năng CQ ở nước Đức.
Andrea Weber và cộng sự (2001) thực hiện một nghiên cứu tác động của các hoạt động phát triển KT- XH tới sự biến đổi sử dụng đất lâu dài trong lưu vực, ảnh hưởng tới cấu trúc và chức năng CQ. Bastian và Lütz (2006) nghiên cứu chức năng CQ với vai trò là chỉ thị cho phát triển các thước đo môi trường nông nghiệp ở một số khu vực nông thôn tại châu Âu [32]. Đầu thế kỷ XXI, đánh dấu sự phát triển của một hướng nghiên cứu mới về đa chức năng (multifunctionanity) và CQ đa chức năng (multifunctionanity landscape) (Barkmann, 2004). Đa chức năng sau đó sử dụng phổ biến trong thiết kế và quy hoạch CQ, đặc biệt phổ biến ở châu Âu dựa trên Công ước Cảnh quan châu Âu (European Landscape Convention) của Hội đồng châu Âu (2000, 2007).
Pinto-Correia và Jongman (2004) trên cơ sở sử dụng các tư liệu trong quá khứ và hiện tại đã tiến hành phân tích biến đổi và dự báo giá trị đa chức năng của các CQ Địa Trung Hải. Naveh (2001) đề xuất 10 giả thiết về hướng nghiên cứu tổng hợp các CQ đa chức năng. Hiện nay, sinh thái CQ phát triển mạnh mẽ về mặt lí luận và có nhiều ứng dụng mới trong khung cảnh môi trường và CQ đang biến đổi mạnh mẽ ở 13 nhiều quy mô không gian, từ toàn cầu cho tới địa phương. Các ứng dụng này được nâng cao hơn nữa nhờ khả năng sử dụng các công nghệ hiện đại là viễn thám, GIS, GPS và mô hình toán học.
Sự phát triển của sinh thái CQ cũng in ấn về vai trò của các phương pháp định lượng trong phân tích mối tương tác giữa cấu trúc CQ và các quá trình hệ sinh thái. Klopatek và Robert H. Gardner (1999) [44] đánh giá sự thay đổi đa dạng sinh học và quy hoạch phát triển bền vững CQ văn hóa và cả CQ tự nhiên, chủ yếu tập trung vào ảnh hưởng của tính bất đồng nhất đến cấu trúc và chức năng hệ sinh thái. Gần đây, Gary M.
Lovett, Clive Jones, Monica G. Nghiên cứu gần đây về sự phức tạp trong sinh thái CQ và cuộc sống nhân tạo cung cấp nhiều hiểu biết mới về các mô hình, quy trình trong CQ và hệ sinh thái, để quản lí thành công hệ sinh thái cần kết hợp các mô hình phức tạp của hệ sinh thái với đa dạng sinh học, môi trường, địa lí và KT-XH (theo David G. Green và nnk, 2006) [36]. Cách tiếp cận dịch vụ hệ sinh thái và định giá dịch vụ hệ sinh thái trong phân tích đa chức năng CQ đã nỗ lực trong công cuộc bảo tồn thiên nhiên, quản lý TNTN có sự tham gia của cộng đồng [48], [49], [54], [57], [58].
Tại hội thảo về Dịch vụ hệ sinh thái được tổ chức tại Salzau của Đức (5/2008) đã tích hợp khái niệm dịch vụ hệ sinh thái trong lập kế hoạch và quản lí ở các quy mô CQ khác nhau, đồng thời cũng trả lời cho câu hỏi: “giải pháp cho vấn đề hay vấn đề cần giải pháp” [61]. Mới nhất là những công trình nghiên cứu của các nhà sinh thái CQ châu Âu và Châu Mĩ về hệ sinh thái, động lực hệ sinh thái, mối liên hệ giữa CQ tự 14 nhiên và CQ văn hóa, kiến trúc đô thị. Các tác giả Châu Á nghiên cứu về ảnh hưởng của CQ tự nhiên, dân cư đến bản sắc văn hóa [34], [37], [40], [47]. Tiêu biểu về nghiên cứu CQ văn hóa như: Sun-Kee Hong và nnk (2011) đã cung cấp các mô hình không gian của CQ Châu Á có liên quan mạnh mẽ đến sự phát triển của con người [59].