Chương 1: Giới thiệu tổng quan đề tài. - Lý do chọn đề tài. - Mục tiêu nghiên cứu. - Nội dung nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu. 4 Tieu luan - Phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lí luận về kiến thức marketing và chiến lược sản phẩm. Chương 3: Phân tích chiến lược sản phẩm EXCITER của công ty Yamaha Motor tại Việt Nam.
Chương 4: Nhận xét, đánh giá và đưa ra các giải pháp để hoàn thiện chiến lược sản phẩm EXCITER của công ty Yamaha Motor tại Việt Nam. Chương 5: Kết luận 5 Tieu luan CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIẾN THỨC MARKETING VÀ PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM EXCITER. HỆ THỐNG MARKETING.
Định nghĩa marketing. Tiếp thị được hiểu là việc quảng bá các sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp đến một nhóm lợi ích dự định. Vì vậy, đây là hoạt động được thực hiện để thu hút sự tập trung vào các dịch vụ của doanh nghiệp. Đó có thể là sản phẩm thực tế có sẵn hoặc các dịch vụ được cấp.
Các ví dụ phổ biến về tiếp thị bao gồm: quảng cáo trên truyền hình, biến quảng cáo bên đường và quảng cáo trên tạp tí. Marketing bao gồm nhiều lĩnh vực, vì vậy xét ở các lĩnh vực khác nhau, sẽ có nhiều định nghĩa khác nhau về marketing. Đầu tiên, theo Philip Kotler, chúng ta hiểu “Marketing như là một quá trình quản trị xã hội, mà trong đó những cá nhân hay nhóm sẽ nhận được những cái mà họ cần thông qua việc tạo ra và trao đổi những sản phẩm và giá trị với người khác”. Định nghĩa của Hiệp hội Marketing Mỹ (The American Marketing Association- AMA): “Marketing là quá trình hoạch định và quản lý thực hiện việc đánh giá, chiêu thị và phân phối các ý tưởng, hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích tạo ra các giao dịch để thỏa mãn mục tiêu của cá nhân và tổ chức.” Định nghĩa của Hiệp hội Marketing Nhật Bản (The Japan Marketing Association- JMA): “ Marketing là một hoạt động tổng hợp mà qua đó các doanh nghiệp hay tổ chức khác- có tầm nhìn chiến lược và thấu hiểu khách hàng sẽ tạo ra thị trường cho mình bằng phương thức cạnh tranh công bằng.” “Marketing là sự kết hợp của nhiều hoạt động liên quan đến công việc kinh doanh nhằm điều phối sản phẩm hoặc dịch vụ từ nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp đến người tiêu dùng.” – Theo Trường Đại học Tài chính – Marketing.
Và để giải thích, cũng như hiểu sâu hơn về marketing, chúng ta xem xét một số thuật ngữ quan trọng như Need, Want, Demand, Product: Nhu cầu tự nhiên (Need): Là trạng thái thiếu thốn người ta cảm nhận được. Chẳng hạn nhu cầu thực phẩm, quần áo, sự an toàn. Mong muốn (Want): Nhu cầu gắn với ước muốn, hình thức biểu hiện nhu cầu tự nhiên do yếu tố cá tính và văn hóa quy định. 6 Tieu luan Nhu cầu có khả năng thanh toán (Demand): Là sự lượng hóa ước muốn trong điều kiện thu nhập nhất định.
Sản phẩm (Product): Bất cứ cái gì đưa ra thị trường để tạo sự chú ý, mua sắm, và thỏa mãn nhu cầu. Quá trình marketing. Marketing luôn lấy khách hàng làm trung tâm, bản chất của marketing là thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, muốn thực hiện tốt quá trình marketing này, thì trong mỗi doanh nghiệp, quá trình này cần phải thực hiện bao gồm năm bước cơ bản sau đây: R → STP → MM → I → C R (Research): Là hoạt động thu thập, xử lý, nghiên cứu và phân tích thông tin marketing. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp xác định được hành vi tiêu dùng, cơ hội thị trường và chuẩn bị những điều kiện, những kế hoạch thích hợp để tham gia vào thị trường.
STP (Segmentation, Targeting, Positioning): Để quyết định chính xác thị trường nào là thị trường mục tiêu, doanh nghiệp cần phải phân đoạn, đánh giá các đoạn thị trường, sau đó chọn thị trường phù hợp khả năng của mình. Thêm vào đó, doanh nghiệp phải định vị sản phẩm của mình để khách hàng nhận biết lợi ích then chốt của sản phẩm và tạo sự khác biệt so với sản phẩm cạnh tranh khác trên thị trường. MM (Marketing - Mix): Trên cơ sở thị trường mục tiêu được lựa chọn, doanh nghiệp sẽ thiết kế một chiến lược phối thức Marketing (Marketing – Mix) để định hướng và phục vụ thị trường mục tiêu đó. Chiến lược của công ty sẽ vạch ra những khách hàng mà công ty sẽ phục vụ và nó sẽ tạo ra giá trị như thế nào.
Sau đó, nhà tiếp thị phát triển các kế hoạch tiếp thị tích hợp sẽ mang lại giá trị dự định cho khách hàng mục tiêu. Marketing – Mix là sự phối hợp các yếu tố có thể kiểm soát được mà doanh nghiệp sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu nhằm đạt được các mục tiêu đã hoạch định. Các yếu tố marketing gồm: Sản phẩm (Product), Giá cả (Price), Phân phối (Place), Chiêu thị (Promotion). I (Implementation): Triển khai thực hiện chiến lược marketing.
Thực hiện chiến lược Marketing đi vào thực tế, yêu cầu các doanh nghiệp phải tổ chức, thực hiện chiến lược qua các chương trình hành động cụ thể, tổ chức nguồn nhân lực thực hiện nó. C (Control): Hoạt động kiểm tra đánh giá chiến lược Marketing, đây là bước cuối cùng của quá trình Marketing. Một doanh nghiệp thành công là doanh nghiệp không ngừng học hỏi, rút và đúc kết kinh nghiệp; phải thu thập thông tin phản hồi từ thị trường, đánh giá, đo lường kết quả hoạt động Marketing có đạt được mục tiêu đề ra hay không. Vai trò và chức năng của marketing.
Vai trò của marketing. Marketing đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết lập mối quan hệ giữa khách hàng và các giao dịch chào bán ra thị trường. Nó mang lại sự tự tin khi muốn thử một sản phẩm mới trên thị trường thay vì các trường hợp sản phẩm tham gia vào thị trường mà không được công bố rộng rãi. Điều này làm cho chức năng của marketing trở nên quan trọng trong mọi tổ chức không phân biệt tổ chức lấy lợi nhuận hay phi lợi nhuận làm trung tâm.
Marketing định hình hình ảnh của tổ chức, cách mọi người liên kết các sản phẩm hoặc dịch vụ của tổ chức và thực sự mang lại cho mọi người niềm tin về sản phẩm hoặc dịch vụ của họ. Chức năng của marketing. Nếu nói hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm thì hoạt động marketing tạo ra khách hàng và thị trường.Vai trò này xuất phát từ những chức năng đặc thù của marketing. Các chức năng đó bao gồm: Nghiên cứu thị trường và phát hiện nhu cầu: Bao gồm các hoạt động thu thập thông tin về thị trường, phân tích hành vi, nhu cầu của khách hàng, nghiên cứu tiềm năng và dự đoán phát triển của thị trường giúp doanh nghiệp phát hiện ra nhu cầu tiềm ẩn của thị trường.
Thích ứng/ đáp ứng nhu cầu thường xuyên thay đổi: - Thích ứng nhu cầu về sản phẩm: Thông qua tìm hiểu thị hiếu của khách hàng, doanh nghiệp sẽ thiết kế và sản xuất sản phẩm theo nhu cầu, đồng thời tiếp tục theo dõi tính thích ứng của sản phẩm, sự chấp nhận của người tiêu dùng sau khi đưa ra thị trường. - Thích ứng về mặt giá cả: Thông qua việc định giá hợp lý và thích hợp với tâm lý của khách hàng, khả năng của doanh nghiệp và tình hình thị trường. - Thích ứng về mặt tiêu thụ: đưa sản phẩm đến tay khách hàng tiêu dùng một cách thuận tiện nhất về mặt không gian và thời gian - Thích ứng về mặt thông tin và khuyến khích tiêu thụ thông qua các hoạt động chiêu thị Thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao: hoạt động marketing phải luôn nghiên cứu đưa ra sản phẩm mới với những ích dụng mới nhằm nâng cao, tối đa hóa chất lượng cuộc sống. Hiệu quả kinh tế: Việc thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng chính là cách thức giúp doanh nghiệp có doanh số và lợi nhuận, kinh doanh hiệu quả và lâu dài.
CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM. Khái niệm sản phẩm. “Sản phẩm” là thành phần đơn lẻ hữu hình và quan trọng nhất của chương trình tiếp thị. Chính sách và chiến lược sản phẩm là nền tảng của một hỗn hợp tiếp thị.
Nếu sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, không có chi phí bổ sung cho bất kỳ thành phần nào khác của hỗn hợp tiếp thị sẽ cải thiện hoạt động của sản phẩm trên thị trường Place. Đối với nhà tiếp thị, các sản phẩm là nền tảng của một kế hoạch tiếp thị. Sản phẩm tốt là chìa khóa thành công trên thị trường. Các quyết định về sản phẩm được đưa ra đầu tiên bởi các nhà tiếp thị và những quyết định này là trọng tâm của tất cả các quyết định tiếp thị khác như giá cả, khuyến mãi và phân phối.
Nó là động cơ kéo phần còn lại của chương trình tiếp thị. Sản phẩm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Chúng đại diện cho một loạt các kỳ vọng đối với người tiêu dùng và xã hội. Khái niệm sản phẩm có ba chiều: Chiều hướng quản lý: Nó bao gồm các thông số kỹ thuật cốt lõi hoặc các thuộc tính vật lý, dịch vụ liên quan, thương hiệu, gói, vòng đời sản phẩm cũng như lập kế hoạch và phát triển sản phẩm.
Là cơ sở để lập kế hoạch, sản phẩm chỉ đứng sau nghiên cứu thị trường và tiếp thị. Việc cung cấp sản phẩm phải cân bằng với nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng - công dân. Việc lập kế hoạch và phát triển sản phẩm có thể đảm bảo tỷ lệ hoàn vốn đầu tư bình thường và sự tăng trưởng liên tục của doanh nghiệp. Chiều hướng người tiêu dùng: Đối với người tiêu dùng, một sản phẩm thực sự là một nhóm các biểu tượng hoặc ý nghĩa.
Mọi người mua mọi thứ không chỉ vì những gì họ có thể làm, mà còn vì những gì họ có ý nghĩa. Mỗi biểu tượng truyền đạt một thông tin nhất định. Một sản phẩm truyền tải một thông điệp chỉ ra một loạt các kỳ vọng cho người mua. Nhận thức của người tiêu dùng về một sản phẩm rất quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của nó.
Một sản phẩm có liên quan là một sản phẩm được người tiêu dùng cảm nhận theo ý định của nhà tiếp thị. Khi một sản phẩm được người tiêu dùng mua và đánh giá của họ, tức là trải nghiệm sau khi mua hàng là thuận lợi, các nhà tiếp thị có thể có đơn đặt hàng lặp lại. Chiều hướng xã hội: 9 Tieu luan Đối với xã hội, các sản phẩm chào mừng và các sản phẩm mong muốn luôn được chào đón vì chúng đáp ứng được các kỳ vọng về phúc lợi xã hội và lợi ích xã hội.