chương I giúp người đọc có thể hiểu được tổng quan về đề tài cùng với cơ sở lý thuyết của bài báo cáo. Những nội dung này nhằm giúp nhóm có cái nhìn tổng quát về nội dung, là tiền đề tạo cơ sở cho việc tìm hiểu sâu hơn trong chương tiếp theo. 7 2 0 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP VÀ PHỐI THỨC MARKETING – MIX 7P CỦA CGV II. Tổng quan về doanh nghiệp CGV CJ CGV là chuỗi rạp chiếu phim multiplex lớn nhất tại Hàn Quốc, và cũng có chi nhánh ở Việt Nam, Trung Quốc và Mỹ.
CGV là được viết tắt từ 3 chữ cái của từ: Cultural (văn hóa), Great (tuyệt vời) và Vital (thiết yếu cho cuộc sống). Chuỗi rạp gồm 142 địa điểm, 681 màn hình và 100 ngàn ghế ngồi ở Hàn Quốc. Tại Việt Nam CGV sở hữu 77 rạp chiếu phim, chiếm hơn 60% thị phần rạp chiếu phim của Việt Nam. CGV - đơn vị thuộc CJ Group, là một trong 5 cụm rạp chiếu phim lớn nhất toàn cầu, nhà là nhà phát hành, cụm rạp chiếu phim lớn nhất Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại.
Với nguồn lực tài chính hùng mạnh, thương hiệu rạp chiếu phim đến từ xứ sở kim chi – Hàn Quốc – CGV đã nhanh chóng mở rộng thị phần và chiếm luôn vị trí số 1 Việt Nam, trở thành “anh lớn” trong lĩnh vực. CGV bắt đầu như một nhóm kinh doanh rạp chiếu phim bên trong CJ Cheil Jeadang vào năm 1995. CJ Golden Village cùng nhau thành lập vào năm 1996 bởi CJ Cheil Jedang của Hàn Quốc, Orange Sky Golden Harvest của Hồng Lông và Village Roadshow của Úc. Tuy nhiên, hiện nay nó được điều hành bởi CJ, Golden Harvest và Village Roadshow đã rút ra khỏi tập đoàn.
CGV ra mắt multiplex đầu tiên ở Gangbyeon vào năm 1998. Nó được sát nhập vào CJ Golden Village và đổi tên thành CJ CGV. Tháng 12/2004 nó trở thành chuỗi rạp chiếu phim đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc. Các thông tin cơ bản về doanh nghiệp: - Tên công ty: CÔNG TY TNHH CJ CGV VIETNAM - Tên viết tắt: CGV - Website: (www.vn) - Địa chỉ: Tầng 2, Rivera Sài Gòn - Số 7/28 Thành Thái, Phường 14, Quận 10, TP.
Hồ Chí Minh. 8 2 0 - Điện thoại: 1900 6017 - Facebook: CGV Cinemas VietNam (https://www.com/cgvcinemavietnam/) - Logo: - Slogan: “Evolving Beyond Movies” – “Trải nghiệm vượt xa điện ảnh”. CGV là tên mới của Megastar, do tập đoàn đa quốc gia đến từ Hàn Quốc CJ Group thành lập. CGV là từ viết tắt của 3 chữ cái đầu tiên đó là: “Culture”, “Great” và “Vital”.
CGV sử dụng biểu tượng khá đơn giản chính là tên gọi viết tắt “CGV” kèm theo đó là hình bông hoa nở. Điểm nổi bật trong logo là 3 chữ được thiết kế nối liền và dính chặt nhau, tượng trưng cho những hàng ghế dài ở rạp chiếu phim. Hình bông hoa nở (hay còn được gọi là ngôi sao 7 cánh) giúp người ta liên tưởng đến ánh sáng của màn hình cinema lúc khởi động, là biểu tượng của sự bùng nổ và đột phá. Màu sắc chủ đạo mà CGV sử dụng là đỏ cam rực rỡ tạo cảm giác trẻ trung hiện đại đồng thời tượng trưng cho đam mê, nhiệt huyết của hãng.
Biểu tượng của CGV được đánh giá là thiết kế tiềm năng vì đã tạo được sự nhận diện thương hiệu riêng biệt.Lịch sử hình thành Năm 1996, CJ Golden Village và CJ CheilJedang được thành lập bời CJ Cheil Jedang (Hàn Quốc), Orange Sky Golden Harvest (Hồng Kông), Village Roadshow (úc). Tuy nhiên, hiện nay CJ Golden Village và CJ CheiUedang được điều hành bởi Cheil Jedang và Orange Sky Golden Harvest, còn Village Roadshow thì rút khỏi tập đoàn. Năm 1998, CGV cho ra mắt Multiplex đầu tiên ở Gangbyeon, được sáp nhập vào CJ Golden Village và được đổi tên thành CJ CGV. Tháng 12/2004, CJ CGV đã trở thành chuỗi rạp chiếu phim đầu tiên được niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Hàn Quốc.
Năm 2006, CJ CGV cho ra mắt phim kỹ thuật số đầu tiên. Năm 2008, cho ra mắt Smart Plex. Năm 2009, cho ra mắt 4D Plex. Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ thuần túy được phân biệt với hàng hóa thuần túy dựa vào 4 đặc tính: tính vô hình, tính không đồng nhất, tính dễ phân hủy và tính bất khả phân.
Đây cũng là nguyên do tạo nên sự khác biệt rõ nét giữa hoạt động marketing cho dịch vụ và cho hàng hóa. Tính không hiện hữu: Dịch vụ chỉ có thể nhận thức được bằng tư duy hay giác quan chứ ta không thể 2 0 chạm vào sản phẩm dịch vụ được, dịch vụ cũng không thể đo lường được bằng các phương pháp đo lường thông thường về thể tích, trọng lượng. Ví dụ như bệnh nhân không thể biết trước kết quả bệnh tình trước khi đi khám bệnh, khách du lịch không biết trước tác động của những dịch vụ được cung cấp trước khi chúng được cung ứng và tiếp nhận. Như vậy dịch vụ mang tính chất vô hình, phi vật chất”.
“Một hình thức tồn tại đặc biệt của dịch vụ ngày càng phổ biến đó là thông tin, đặc biệt trong những ngành dịch vụ mang tính hiện đại như tư vấn, pháp lý, dịch vụ nghe nhìn, viễn thông, máy tính. Quá trình sản xuất và tiêu thụ gắn với các hoạt động dịch vụ này có thể diễn ra không đồng thời như thường thấy ở những dịch vụ thông thường khác như phân phối, y tế, vận tải hay du lịch.mà vốn đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa người cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng”. Tính không đồng nhất: “Dịch vụ không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hoá. Do vậy, nhà cung cấp khó kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất.
Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ lại chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của người cung cấp dịch vụ. Sức khoẻ, sự nhiệt tình của nhân viên cung cấp dịch vụ vào buổi sáng và buổi chiều có thể khác nhau. Do vậy, khó có thể đạt được sự đồng đều về chất lượng dịch vụ ngay trong một ngày. Dịch vụ càng nhiều người phục vụ thì càng khó đảm bảo tính đồng đều về chất lượng.
Để khắc phục nhược điểm này, doanh nghiệp có thể thực hiện cơ giới hoá, tự động hoá trong khâu cung cấp dịch vụ, đồng thời có chính sách quản lý nhân sự đặc thù đối với các nhân viên cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, việc tiếp xúc với nhân viên 2 2 0 cung cấp dịch vụ lịch sự, niềm nở cũng là một yếu tố hấp dẫn khách hàng. Mặt khác, không phải bất kỳ dịch vụ nào cũng có thể tự động hoá quá trình cung cấp được”. Tính không tách rời: Quá trình sản xuất dịch vụ gắn liền với việc tiêu dùng sản phẩm dịch vụ.
Vì vậy, sản phẩm dịch vụ được tiêu dùng ở mọi nơi và mọi thời điểm. Khách hàng và nhân viên cung cấp dịch vụ là những người trực tiếp tham gia và ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Chính vì thế mà việc sản xuất và cung ứng dịch vụ không được thực hiện tùy tiện mà phải phụ thuộc và nhu cầu của khách hàng, phải có khách hàng thì dịch vụ mới được thực hiện. Tính không lưu trữ: Sản phẩm dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng trực tiếp tại ngay thời điểm cung cấp dịch vụ.
Vì vậy mà dịch vụ không thể tồn kho, không thể vận chuyển từ nơi này đến nơi khác, không thể hoàn trả, thu hồi hay bán lại. Cung và cầu dịch vụ khó cân đối, thường mất cân bằng giữa những thời điểm khác nhau. Nên khắc phục bất lợi của đặc tính này, nhà cung cấp dịch vụ cần: + Áp dụng cơ chế sử dụng lao động linh hoạt. 2 0 + Dự báo nhu cầu chính xác.
+ Cung cấp phương tiện tự phục vụ cho khách hàng để nâng cao năng suất. Khái niệm Marketing dịch vụ: I. Khái niệm Marketing dịch vụ Philip Kotler: “Marketing dịch vụ đòi hỏi các giải pháp nâng cao chất lượng, năng suất dịch vụ, tác động làm thay đổi cầu, vào việc định giá cũng như phân phối và cổ động”. Theo Krippendori: “Marketing dịch vụ là một sự thich ứng có hệ thống và phối hợp chính sách kinh doanh dịch vụ tư nhân và chính phủ, với sự thỏa mãn tối ưu những nhu cầu của một nhóm khách hàng được xác định và đạt được lợi nhuận xứng đáng”.
3 2 0 Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ với nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh, trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa DN, người tiêu dùng và xã hội. Bản chất hoạt động của Marketing dịch vụ Do đặc tính của sản phẩm dịch vụ, doanh nghiệp cần phải chú trọng những vấn đề sau: - Nhận biết nhu cầu của người tiếp nhận dịch vụ để có thể giới thiệu hàng hóa vật chất và phi vật chất trong thời gian chuyển giao dịch vụ. - Lợi ích mà khách hàng nhận được và sự thay đổi của họ như thế nào theo sự nhận biết được dịch vụ chuyển giao. - Người cung cấp dịch vụ phải tìm các giải pháp để cực đại hóa dịch vụ mà người tiêu dùng nhận được trong thời gian chuyển giao Hoạt động marketing dịch vụ diễn ra trong toàn bộ quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ bao gồm: giai đoạn trước tiêu dùng, trong tiêu dùng và sau khi tiêu dùng.
Lý thuyết về phối thức Marketing 7P I. Sản phẩm dịch vụ (Product) Sản phẩm nói chung là một khái niệm bao quát gồm những sự vật hoặc những tập hợp hoạt động mang lại những giá trị cho khách hàng có thể ở dạng hữu hình hoặc vô hình. Một sản phẩm dịch vụ là một tập hợp bao gồm các giá trị làm thỏa mãn khách hàng nằm ở dạng vô hình. Một người mua những dịch vụ để giải quyết những vấn đề của họ kèm theo các giá trị tương ứng với khả năng thực hiện có thể nhận thấy ở dịch vụ trải nghiệm của khách hàng.
Bốn cấp độ cấu thành của sản phẩm: 2 0 - Sản phẩm cốt lõi hay sản phẩm chính: bao gồm những sản phẩm hàng hóa hiện hữu và dịch vụ. - Sản phẩm mong muốn: bao gồm một sản phẩm nói chung kèm theo những điều kiện mua bán tối thiểu cần có. 4 - Sản phẩm được tăng thêm: đây là một sản phẩm làm cho sản phẩm của DN khác biệt hoàn toàn so với các sản phẩm khác.