CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Sự cần thiết của đề tài Trong nền kinh tế thị trường hiện nay vấn đế mà các doanh nghiệp luôn băn khoăn lo lắng là “Hoạt động kinh doanh có hiệu quả hay không? Doanh thu có trang trãi được toàn bộ chí phí bỏ ra hay không? Làm thế nào để tối đa hóa lợi nhuận? Bất cứ một doanh nghiệp nào khi bắt đầu hoạt động đều muốn thu được nhiều lợi nhuận, tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng thỏa mãn được mong muốn đó. Các doanh nghiệp chúng ta đang hoạt động trong cơ chế thị trường chứ không phải nền kinh tế kế hoạch tập trung nơi được kế hoạch hoá và cân đối toàn bộ nền kinh tế quốc dân chịu sự tác động của các qui luật rất sòng phẳng, sòng phẳng đến nỗi rất nghiệt ngã của thị trường, bất cứ một quyết định sai lầm nào đều dẫn đến hậu quả khó lường và đôi khi phá sản. Do đó việc ra quyết định một cách đúng đắn là vô cùng cần thiết và trách nhiệm này thuộc về các nhà quản trị sẽ tổ chức phối hợp ra quyết định và kiểm soát mọi hoạt động trong công ty, nhằm mục tiêu chỉ đạo hướng dẫn công ty để đạt được lợi nhuận cao nhất bằng cách phân tích đánh giá và đề ra những dự án chiến lược tương lai. Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận là một công cụ kế hoạch hóa và quản lí hữu dụng.
Qua việc phân tích này các nhà quản trị sẽ biết ảnh hưởng của từng yếu tố như giá bán sản lượng kết cấu mặt hàng và đặt biệt là ảnh hưởng của kết cấu chí phí đối với lợi nhuận như thế nào, đã, đang và sẽ làm tăng giảm lợi nhuận ra sao. Ngoài ra thông qua việc phân tích trên những số liệu mang tính dự báo sẽ phục vụ cho các nhà quản trị trong lĩnh vực điều hành hiện tại và hoạch định kế hoạch trong tương lai với những điểm trên việc ứng dụng mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận vào mỗi doanh nghiệp là vô cùng cần thiết tuy nhiên vận dụng nó là một vấn đề rất mới mẻ. Xuất phát từ vấn đề này nên em quyết định chọn đề tài “PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ CHI PHÍ – KHỐI LƯỢNG – LỢI NHUẬN TẠI HTX QUANG MINH”. Qua đề tài này em sẽ có cơ hội, so sánh với các điều kiện kinh doanh thực tế rút ra những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com http://www.net Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận (C.P) kiến thực tế cần thiết giúp cho việc tổ chức, điều hành và ra những quyết định kinh doanh trong tương lại nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho hơp tác xã.
2 Muc tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu tổng quát - Phân tích mối quan hệ chi phí khối lượng lợi nhuân của hợp tác xã Quang Minh để có những đề xuất sản xuất tối ưu hóa nhất 2. 2Mục tiệu cụ thể - Đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các phân xưởng vệ tinh hoạt động kém. - Dự báo tình hình tiêu thụ của hợp tác xã.3 Phương pháp nghiên cứu - Đề tài này được thực hiện dựa vào số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp: - Đối với số liệu sơ cấp: Thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp - Đối với số liệu thứ cấp: Thu thập từ biên bản sản xuất, nhật ký sản xuất, nhật ký bán hàng, sổ chi tiết phát sinh từng tháng năm, bảng cân đối kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán. - Trong quá trình phân tích các phương pháp sử dụng là thống kê, tổng hợp, so sánh 1.4 Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: đề tài được thực hiện tại HTX - Về thời gian: đề tài được thực hiện: phân tích chi phí khối lượng lợi nhuận của năm 2008 - Việc phân tích lấy số liệu của 2008.
Do tính phức tạp trong loại hình hoạt động của công ty là kinh doanh nhiều sản phNm nên phạm vi của bài luận này được giới hạn trong việc phân tích C.P của các dòng sản phNm trong HTX LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com http://www.net Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận (C.P) CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận (Cost – Volume – Profit) Phân tích mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận (Cost – Volume – Profit) là xem xét mối quan hệ nội tại của các nhân tố: giá bán, sản lượng, chi phí khả biến, chi phí bất biến và kết cấu mặt hàng, đồng thời xem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố đó đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Phân tích mối quan hệ C.P là một biện pháp hữu ích nhằm hướng dẫn các nhà doanh nghiệp trong việc lựa chọn đề ra quyết định, như lựa chọn dây chuyền sản xuất, định giá sản phNm, chiến lược khuyến mãi, sử dụng tốt những điều kiện sản xuất kinh doanh hiện có… 2.2 Mục tiêu phân tích mối quan hệ C.P Mục đích của phân tích C.P chính là phân tích cơ cấu chi phí hay nói cách khác là nhằm mục đích phân tích rủi ro từ cơ cấu chi phí này. Dựa trên những dự báo về khối lượng hoạt động, doanh nghiệp đưa ra cơ cấu chi phí phù hợp để đạt được lợi nhuận cao nhất. Để thực hiện phân tích mối quan hệ C.P cần thiết phải nắm vững cách ứng xử của chi phí để tách chi phí của doanh nghiệp thành chi phí khả biến, bất biến, phải hiểu rõ Báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí, đồng thời phải nắm vững một số khái niệm cơ bản sử dụng trong phân tích.3 Báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí Một khi chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành yếu tố chi phí khả biến và bất biến, người quản lý sẽ vận dụng cách ứng xử của chi phí này để lập ra một báo cáo kết quả kinh doanh và chính dạng báo cáo này sẽ được sử dụng rộng rãi như một kế hoạch nội bộ và một công cụ để ra quyết định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com http://www.net Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận (C.P) Báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí có dạng như sau: Doanh thu xxxxxx Chi phí khả biến xxxxx Số dư đảm phí xxxx Chi phí bất biến xxx Lợi nhuận xx 2.1 So sánh Báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí (Kế toán quản trị) và Báo cáo thu nhập theo chức năng chi phí (Kế toán tài chính) Kế toán tài chính Kế toán quản trị Doanh thu xxxxxx Doanh thu xxxxxx (Trừ) Giá vốn hàng bán xxxxx (Trừ ) Chi phí khả biến xxxxx Lãi gộp xxxx Số dư đảm phí xxxx (Trừ) Chi phí kinh doanh xx (Trừ) Chi phí bất biến xx Lợi nhuận x Lợi nhuận x Điểm khác nhau rõ ràng giữa hai báo cáo gồm: tên gọi và vị trí của các loại chi phí.
Tuy nhiên, điểm khác nhau chính ở đâu là khi doanh nghiệp nhận được báo cáo của Kế toán tài chính thì không thể xác định được diểm hòa vốn và phân tích mối quan hệ chi phí, doanh thu và lợi nhuận, vì hình thức báo cáo của Kế toán tài chính nhằm mục đích cung cấp kết quả họat động kinh doanh cho các đối tượng bên ngoài, do đó chúng cho biết rất ít về cách ứng xử của chi phí. Ngược lại, báo cáo kết quả họat động kinh doanh theo số dư đảm phí lại có mục tiêu sử dụng cho các nhà quản trị, do đó ta có thể hiểu sâu thêm được về phân tích hòa vốn cũng như giải quyết mối quan hệ chi phí, khối lượng, lợi nhuận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com http://www.net Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận (C.4 Các khái niệm cơ bản sử dụng trong phân tích C.1 Số dư đảm phí – Phần đóng góp Số dư đảm phí (SDĐP) là số chênh lệch giữa doanh thu và chi phí khả biến. SDĐP được sử dụng trước hết để bù đắp chi phí bất biến, số dư ra chính là lợi nhuận. SDĐP có thể tính cho tất cả loại sản phNm, một loại sản phNm và một đơn vị sản phNm.
SDĐP khi tính cho một đơn vị sản phNm còn gọi là phần đóng góp, vậy phần đóng góp là phần còn lại của đơn giá bán sau khi trừ cho biến phí đơn vị. Gọi: x: sản lượng tiêu thụ g : giá bán a: chi phí khả biến đơn vị b: chi phí bất biến Tổng số Tính cho 1 sp Doanh thu gx g Chi phí khả biến ax a Số dư đảm phí (g-a)x g-a Chi phí bất biến b Lợi nhuận (g-a)x – b Từ báo cáo thu nhập tổng quát trên ta xét các trường hợp sau: - Khi doanh nghiệp không hoạt động, sản lượng x = 0 lợi nhuận của doanh nghiệp P = -b, doanh nghiệp lỗ bằng chi phí bất biến - Khi doanh nghiệp hoạt động tại sản lượng xh, ở đó SDĐP bằng chi phí bất biến lợi nhuận của doanh nghiệp P = 0, doanh nghiệp đạt mức hòa vốn. (g-a)xh = b b xh = g-a CPBB Sản lượng hoà vốn = SDĐP đơn vị - Khi doanh nghiệp hoạt động tại sản lượng x1 > xh lợi nhuận của doanh nghiệp P = (g –a)x1 – b LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com http://www.net Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận (C.P) - Khi doanh nghiệp hoạt động tại sản lượng x2 > x1 > xh lợi nhuận của doanh nghiệp P = (g-a)x2 – b Như vậy khi sản lượng tăng 1 lượng là: ∆x = x2 – x1 Lợi nhuận tăng 1 lượng: ∆P = (g-a)(x2 – x1) ∆P = (g-a)∆x Kết luận: Thông qua khái niệm SDĐP chúng ta thấy được mối quan hệ giữa sự biến động về lượng với sự biến động về lợi nhuận, cụ thể là: nếu sản lượng tăng 1 lượng thì lợi nhuận tăng lên 1 lượng bằng sản lượng tăng thêm nhân cho SDĐP đơn vị. Chú ý: Kết luận này chỉ đúng khi doanh nghiệp vượt qua điểm hòa vốn Nhược điểm của việc sử dụng khái niệm SDĐP là: - Không giúp nhà quản lý có cái nhìn tổng quát ở giác độ toàn bộ công ty nếu công ty sản xuất và kinh doanh nhiều loại sản phNm, bởi vì sản lượng của từng sản phNm không thể tổng hợp ở toàn công ty - Làm cho nhà quản lý dễ nhầm lẫn trong việc ra quyết định, bởi vì tưởng rằng tăng doanh thu của những sản phNm có SDĐP lớn thì lợi nhuận tăng lên, nhưng điều này có khi hoàn toàn ngược lại.