ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là một bệnh không lây phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Theo thống kê năm 2021 của liên đoàn đái tháo đường thế giới (IDF), hiện nay, có khoảng 537 triệu người trưởng thành (20 – 79 tuổi) đang sống chung với bệnh đái tháo đường, và con số này được dự đoán sẽ tăng lên khoảng 634 triệu người vào năm 2030, chủ yếu tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình [14]. Đái tháo đường ngày càng phổ biến trên toàn thế giới cũng như tại Việt Nam. Trong đó đái tháo đường típ 2 chiếm đa số trên 90% [10].
Nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2019 chỉ ra tỉ lệ tử vong do ĐTĐ xếp thứ 8 đối với nhóm người ở mọi lứa tuổi và xếp thứ 3 đối với lứa tuổi 50 - 74 tuổi [12]. Ở Việt Nam, bệnh đái tháo đường được dự đoán là một trong bảy căn bệnh gây tử vong và tàn tật hàng đầu vào năm 2030. Theo dữ liệu cập nhật của IDF 2021, Việt Nam có gần 4 triệu người mắc bệnh với tỷ lệ được điều chỉnh theo tuổi là 6,1%, trong đó tỷ lệ mắc bệnh chưa được chẩn đoán là 51,5%. Về chi phí, trung bình cho điều trị của mỗi người bệnh là 418,1 USD/năm [14], [20].
Tại Mỹ, tổng chi phí y tế ước tính vào năm 2017 liên quan đến điều trị bệnh đái tháo đường là 327 tỷ USD, trong đó chi phí trực tiếp y tế là 71,2 tỷ USD. Trung bình, những người mắc bệnh đái tháo đường có mức chi phí chi trả cho y tế cao hơn khoảng 3,3 lần so với mức chi trả của người không mắc bệnh [14]. Đái tháo đường là bệnh mãn tính người bệnh phải dùng liên tục suốt đời, tạo ra một gánh nặng kinh tế không nhỏ cho người thân và gia đình, cũng như hệ thống y tế. Hiện nay chỉ mới có một số nghiên cứu về chi phí trực tiếp chi cho y tế và ngoài y tế điều trị bệnh đái tháo đường được thực hiện tại một số bệnh viện Việt Nam mà chưa có nhiều nghiên cứu phân tích cả chi phí trực tiếp và gián tiếp liên quan đến bệnh đái tháo đường típ 2.
Bệnh viện Đa khoa Sóc Sơn là bệnh viện hạng II tại thành phố Hà Nội, thực hiện nhiệm vụ cấp cứu, khám chữa bệnh, chăm sóc y tế cho người dân trong khu vực. Hàng năm bệnh viện thực hiện khám và điều trị ngoại trú cho khoảng 1000 bệnh nhân ĐTĐ típ 2. Trong những năm gần 1 đây, lượng bệnh nhân điều trị tại bệnh viện có xu hướng ngày càng tăng đòi hỏi bệnh viện cần xây dựng kế hoạch điều trị một cách chủ động, dự trù các nguồn lực để đáp ứng nhu cầu điều trị. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại, bệnh viện chưa có nghiên cứu nào đánh giá tổng thể về cơ cấu chi phí cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí điều trị bệnh đái tháo đường típ 2.
Từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Phân tích chi phí điều trị ngoại trú bệnh đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Sóc Sơn, Hà Nội năm 2022 - 2023” với hai mục tiêu như sau: Mục tiêu 1: Mô tả cơ cấu các chi phí điều trị bệnh đái tháo đường típ 2 của bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Sóc Sơn, thành phố Hà Nội năm 2022 – 2023. Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chi phí điều trị bệnh đái tháo đường típ 2 của bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Sóc Sơn, thành phố Hà Nội năm 2022- 2023. Từ đó, cung cấp số liệu cần thiết giúp bác sĩ và gia đình bệnh nhân ước lượng được chi phí điều trị liên quan đến bệnh đái tháo đường típ 2 để tránh những gánh nặng về kinh tế. Đồng thời, cũng cấp thông tin quan trọng cho các phân tích chi phí - hiệu quả tại bệnh viện trong tương lai.
Khái quát về bệnh Đái tháo đường típ 2 1. Định nghĩa Theo ADA 2004: “Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh.” Các ADA cập nhật vẫn giữ nguyên định nghĩa ĐTĐ này [2]. Chẩn đoán và phân loại bệnh ĐTĐ 1.
Chấn đoán bệnh ĐTĐ Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị Đái tháo đường típ 2 của Bộ Y tế ban hành năm 2020, tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường dựa vào 1 trong 4 tiêu chí sau đây: a) Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) hoặc: b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp với 75g glucose bằng đường uống ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L) c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol). Xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện bằng phương pháp đã chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. d) BN có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc của cơn tăng glucose huyết cấp kèm mức glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Chẩn đoán xác định nếu có 2 kết quả trên ngưỡng chẩn đoán trong cùng 1 mẫu máu xét nghiệm hoặc ở 2 thời điểm khác nhau đối với tiêu chí a, b, hoặc c; riêng tiêu chí d: chỉ cần một lần xét nghiệm duy nhất [6].
Ngoài ra, Bộ Y tế khuyến cáo làm xét nghiệm để tầm soát, phát hiện ĐTĐ hoặc tiền ĐTĐ ở người lớn không có triệu chứng, biểu hiện lâm sàng cũng như ĐTĐ thai kỳ. Phân loại bệnh ĐTĐ Bệnh đái tháo đường được phân thành 4 loại chính: a) Đái tháo đường típ 1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối). c) Đái tháo đường thai kỳ (là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ típ 1, típ 2 trước đó). d) Các loại ĐTĐ đặc biệt do các nguyên nhân khác, như ĐTĐ sơ sinh hoặc đái tháo đường do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô… [6].
Đái tháo đường típ 2 trước kia được gọi là ĐTĐ của người lớn tuổi hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin, chiếm 90-95% các trường hợp ĐTĐ. Tuy nhiên, ĐTĐ ở lứa tuổi trẻ đang có xu hướng gia tăng do có sự thay đổi nhanh chóng về thói quen ăn uống và vận động. Biến chứng bệnh ĐTĐ típ 2 1. Biến chứng cấp tính - Hôn mê nhiễm toan ceton: Là tình trạng nhiễm độc do máu bị toan hóa, vì tăng nồng độ acid, đây là sản phẩm của những chuyển hóa dở dang do thiếu insulin gây ra.
Bệnh nhân có thể tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời [5]. - Hạ glucose máu - Hôn mê: do tăng áp lực thẩm thấu xuất phát từ nguyên nhân đường huyết quá cao [5]. - Các bệnh nhiễm trùng cấp tính Nhóm biến chứng này có thể xảy ra bất cứ lúc nào khi lượng đường trong máu tăng cao hay hạ thấp quá mức. Biến chứng mạn tính Thường được chia ra bệnh mạch máu lớn và mạch máu nhỏ hoặc theo cơ quan bị tổn thương: - Biến chứng mạch máu lớn: Xơ vữa vành tim gây nhồi máu cơ tim, hội chứng mạch vành cấp, xơ vữa mạch não gây đột quỵ, xơ vữa động mạch ngoại vi gây tắc mạch.
- Biến chứng mạch máu nhỏ: Bệnh võng mạc đái tháo đường, bệnh thận đái tháo đường, bệnh thần kinh đái tháo đường (Bệnh lý thần kinh cảm giác - vận động, thần kinh tự động) - Phối hợp bệnh lý thần kinh và mạch máu: Loét bàn chân đái tháo đường. Thời gian xuất hiện các biến chứng mạn tính của bệnh đái tháo đường là 5 - 10 năm sau khi mắc bệnh. Xuất hiện sớm nhất là biến chứng thần kinh và biến chứng tim mạch của bệnh tiểu đường. Biến chứng mắt (bệnh võng mạc, đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp…) sẽ xảy ra sau khoảng 7 năm.
Bệnh thận đái tháo đường xuất hiện muộn hơn, sau khoảng 12 - 18 năm. Dịch tễ Theo thống kê năm 2021 của liên đoàn đái tháo đường thế giới (IDF), hiện nay, có khoảng 537 triệu người trưởng thành (20 – 79 tuổi) đang sống chung với bệnh đái tháo đường, và con số này được dự đoán sẽ tăng lên khoảng 634 triệu người vào năm 2030, chủ yếu tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình [14]. Bệnh ĐTĐ là một đại dịch toàn cầu và ngày càng phổ biến ở các nước châu Á, thậm chí nơi đây được coi là tâm điểm trong những năm gần đây. Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) báo cáo rằng trong năm 2013, gần 382 triệu người trên thế giới bị ĐTĐ và 60% trong số đó cư trú ở châu Á [14].
Ở Việt Nam, năm 1990 của thế kỷ trước, tỷ lệ bệnh ĐTĐ chỉ là 1,1% (ở thành phố Hà Nội), 2,52% (ở thành phố Hồ Chí Minh), 0,96% (ở thành phố Huế), thì nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy: tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5,42%, tỷ lệ đái tháo đường 5 chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6%. Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 7,3%, rối loạn glucose huyết lúc đói 1,9% (toàn quốc năm 2003). Theo kết quả điều tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6%, trong đó tỷ lệ ĐTĐ được chẩn đoán là 31,1%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán là 69,9%. Trong số những người được chẩn đoán, tỷ lệ ĐTĐ được quản lý tại cơ sở y tế: 28,9%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được quản lý: 71,1% [5].
Dữ liệu cập nhật của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) cho thấy năm 2021, Việt Nam có tỷ lệ 6,1% người trưởng thành mắc ĐTĐ, trong đó tỷ lệ mắc bệnh chưa được chẩn đoán là 51,5% [14]. Điều trị Bảng 1. Mục tiêu điều trị cho BN ĐTĐ ở người trưởng thành, không có thai [2] Mục tiêu Chỉ số HbA1c < 7% (53 mmol/mol) Glucose huyết tương 80-130 mg/dL (4,4-7,2 mmol/L)* mao mạch lúc đói, trước ăn Đỉnh glucose huyết tương <180 mg/dL (10,0 mmol/L)* mao mạch sau ăn 1-2 giờ Tâm thu <140 mmHg, Tâm trương <90 mmHg Huyết áp Nếu đã có biến chứng thận, hoặc có yếu tố nguy cơ tim mạch do xơ vữa cao: Huyết áp <130/80 mmHg Lipid máu LDL cholesterol <100 mg/dL (2,6 mmol/L), nếu chưa có biến chứng tim mạch.