CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về bệnh đái tháo đường typ 2 1.1 Định nghĩa Theo ADA 2004: “Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh.” Các ADA cập nhật vẫn giữ nguyên định nghĩa ĐTĐ này [37]. Nói cách khác, bệnh tiểu đường là một bệnh mãn tính xảy ra khi tuyến tụy không sản xuất đủ insulin hoặc cơ thể không thể sử dụng hiệu quả insulin mà nó sản xuất. Insulin là một loại hormon điều chỉnh lượng đường trong máu.2 Dịch tễ Theo thống kê năm 2019 của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), tỷ lệ ĐTĐ trên toàn cầu ở nhóm tuổi 20 - 79 là 9,3%, con số này trong năm 2017 là 8,8%.
Ngoài ra, cứ 2 người thì có 1 người không biết về tình trạng bệnh [41],[61]. Đến năm 2030, bệnh tiểu đường được ước tính sẽ ảnh hưởng đến 547,8 triệu người trưởng thành và 700,2 triệu người cho năm 2045. Số người mắc bệnh tiểu đường trên toàn cầu đã liên tục tăng từ 151 triệu người vào năm 2000, khi IDF Diabetes Atlas lần đầu tiên được đưa ra, lên 285 triệu người vào năm 2009 và lên 382 triệu người vào năm 2013. Các số liệu được đưa ra trong tập bản đồ IDF phù hợp với ước tính của một hiệp hội quốc tế báo cáo xu hướng bệnh ĐTĐ trên toàn thế giới kể từ năm 1980 dựa trên phân tích tổng hợp của 751 nghiên cứu với trên 4,4 triệu người tham gia [18].
Theo nghiên cứu này, tỷ lệ hiện mắc bệnh tiểu đường theo độ tuổi trên toàn cầu tăng từ 4,3% năm 1980 lên 9,0% năm 2014 ở nam giới và từ 5,0% lên 7,9% ở phụ nữ. Vì vậy, như trong thống kê của IDF, bệnh ĐTĐ ít nhiều ảnh hưởng đến cả hai giới, với nam giới bị ảnh hưởng nhiều hơn so với phụ nữ ở nhóm tuổi trẻ hơn và ngược lại ở nhóm tuổi cao hơn [18],[41]. Ngoài ra, theo ước tính của hiệp hội quốc tế trên, số người trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới tăng từ 108 triệu người vào năm 3 1980 lên 428 triệu người vào năm 2014. Nguyên nhân đến từ sự gia tăng tỷ lệ hiện mắc (28,5%), sự gia tăng và già hóa dân số (39,7%) cũng như sự tác động qua lại của hai yếu tố trên (31,8%).
Tuy nhiên, đại dịch béo phì toàn cầu mới thực sự là nguyên nhân chính dẫn đến gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ, cùng với việc kéo dài tuổi thọ, nhờ những tiến bộ vượt bậc của quản lý nguy cơ tim mạch đa yếu tố và liệu pháp điều trị hiệu quả cho người mắc bệnh ĐTĐ, cũng góp phần vào việc mở rộng dân số mắc bệnh ĐTĐ trên toàn thế giới [36],[45],[56],[61]. Dựa trên ước tính của hiệp hội quốc tế trên 10 quốc gia hàng đầu thế giới về số triệu người trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ từ năm 1980 đến năm 2014, cho thấy sự chuyển dịch khỏi các nước châu Âu và hướng tới các nước châu Á, Ai Cập và Mexico, các quốc gia với sự gia tăng dân số cao trong những thập kỷ gần đây [18]. Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 1985 tại Southall, Tây London, đã chứng minh rằng tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở người châu Á cao hơn người châu Âu ít nhất 3,8 lần và cao hơn 5 lần đối với bệnh nhân từ 40 - 64 tuổi [59]. Tác giả Ramachandran và cộng sự, năm 2012, chỉ ra rằng hơn 60% dân số mắc bệnh tiểu đường trên thế giới đến từ các nước châu Á, nguyên nhân do người châu Á có khuynh hướng di truyền và sắc tộc đối với bệnh tiểu đường, có khả năng chịu đựng thấp hơn đối với các yếu tố nguy cơ từ môi trường.
Bài báo cho thấy người châu Á mắc bệnh ĐTĐ ngay cả khi có chỉ số khối cơ thể (BMI) thấp hơn, vòng eo nhỏ hơn so với người phương Tây cũng như có độ tuổi khởi phát bệnh ĐTĐ trẻ hơn [58]. Bệnh ĐTĐ là một đại dịch toàn cầu và ngày càng phổ biến ở các nước châu Á, thậm chí nơi đây được coi là tâm điểm của đại dịch này. Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) báo cáo rằng trong năm 2013, gần 382 triệu người trên thế giới bị ĐTĐ và 60% trong số đó cư trú ở châu Á [43]. Ngược lại với số liệu thống kê ở các nước phương Tây, nơi bệnh tiểu đường phổ biến hơn ở người cao tuổi, nghiên cứu đã chỉ ra rằng dân số châu Á có tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường cao, ngay cả ở người trưởng thành trẻ tuổi và trung niên [61].
Đồng thời, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy các nước châu Á đang có tốc độ gia tăng tỷ 4 lệ mắc bệnh tiểu đường và gánh nặng bệnh tiểu đường cao hơn bất kỳ khu vực nào khác. Theo một cuộc khảo sát trên toàn quốc được thực hiện ở Singapore, 440.000 người Singapore đã được chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ và con số này dự kiến sẽ tăng lên 1 triệu người vào năm 2050, tức là 15% dân số [56]. Đây là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy bệnh tiểu đường là một vấn đề sức khỏe cấp bách ở châu Á, cần được giải quyết ngay lập tức. Điều quan trọng là phải nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với những tác động bất lợi của bệnh ĐTĐ, cũng như nâng cao vai trò của quốc gia trong quản lý bệnh tiểu đường.
Ở Việt Nam, năm 1990 của thế kỷ trước, tỷ lệ bệnh ĐTĐ chỉ là 1,1% (ở thành phố Hà Nội), 2,52% (ở thành phố Hồ Chí Minh), 0,96% (ở thành phố Huế), thì nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy: tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5,42%, tỷ lệ đái tháo đường chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6%. Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 7,3%, rối loạn glucose huyết lúc đói 1,9% (toàn quốc năm 2003) [16]. Theo kết quả điều tra STEPwise về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 4,1%, tiền ĐTĐ là 3,6%, trong đó tỷ lệ ĐTĐ được chẩn đoán là 31,1%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán là 69,9%. Trong số những người được chẩn đoán, tỷ lệ ĐTĐ được quản lý tại cơ sở y tế là 28,9%, tỷ lệ ĐTĐ chưa được quản lý là 71,1% [10].
Dữ liệu cập nhật của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) cho thấy năm 2019 Việt Nam có tỷ lệ 6% người trưởng thành mắc ĐTĐ [61].3 Chẩn đoán và phân loại bệnh ĐTĐ a. Chẩn đoán bệnh ĐTĐ Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị Đái tháo đường typ 2 của Bộ Y tế ban hành năm 2020, tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường dựa vào 1 trong 4 tiêu chí sau đây: a) Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) hoặc: b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp với 75g glucose bằng đường uống ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L) 5 c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol). Xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện bằng phương pháp đã chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. d) BN có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc của cơn tăng glucose huyết cấp kèm mức glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L).
Chẩn đoán xác định nếu có 2 kết quả trên ngưỡng chẩn đoán trong cùng 1 mẫu máu xét nghiệm hoặc ở 2 thời điểm khác nhau đối với tiêu chí a, b, hoặc c; riêng tiêu chí d: chỉ cần một lần xét nghiệm duy nhất [12]. Ngoài ra, Bộ Y tế khuyến cáo làm xét nghiệm để tầm soát, phát hiện ĐTĐ hoặc tiền ĐTĐ ở người lớn không có triệu chứng, biểu hiện lâm sàng cũng như ĐTĐ thai kỳ. Phân loại bệnh ĐTĐ Bệnh đái tháo đường được phân thành 4 loại chính: a) Đái tháo đường typ 1: Đây là một loại bệnh tự miễn dịch, cụ thể là do các tế bào sản xuất insulin trong tuyến tụy của cơ thể bị phá hủy. Khoảng 5-10% những người mắc bệnh ĐTĐ typ 1.
Bệnh này thường được chẩn đoán ở trẻ em và thanh niên (nhưng có thể phát triển ở mọi lứa tuổi) nên hay được biết đến với tên gọi bệnh tiểu đường “vị thành niên”. Những người bị ĐTĐ typ 1 bắt buộc phải dùng insulin mỗi ngày. Đây chính là lý do vì sao ĐTĐ typ 1 hay còn được gọi là bệnh đái tháo đường phụ thuộc insulin [32]. b) Đái tháo đường typ 2 (do giảm chức năng của tế bào beta tụy tiến triển trên nền tảng đề kháng insulin).
Đái tháo đường typ 2 trước kia được gọi là ĐTĐ của người lớn tuổi hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin. Đây là loại bệnh ĐTĐ phổ biến nhất, chiếm 90- 95% các trường hợp ĐTĐ. Bệnh thường xảy ra phần lớn ở tuổi trung niên trở lên, khi các tế bào beta đảo tụy bị lão hóa, suy giảm chức năng dẫn đến giảm số lượng hoặc chất lượng insulin bài tiết, hoặc cả hai. Tuy nhiên, ĐTĐ ở lứa tuổi trẻ đang có xu hướng gia tăng do có sự thay đổi nhanh chóng vè thói quen ăn uống và vận động.
Những người mắc tiểu đường typ 2 có thể được tầm soát và phát hiện sớm bằng cách theo dõi sức khỏe định kỳ. 6 Tiền đái tháo đường là tình trạng bệnh lý khi nồng độ glucose máu cao hơn bình thường những chưa đạt tiêu chí chẩn đoán ĐTĐ, bao gồm những người rối loạn glucose máu lúc đói, hoặc rối loạn dung nạp glucose, hoặc tăng HbA1c. Tiền ĐTĐ là giai đoạn trung gian giữa người bình thường và ĐTĐ typ 2. Khoảng 5-10% người tiền ĐTĐ sẽ trở thành ĐTĐ hàng năm và tổng cộng 70% người tiền ĐTĐ sẽ trở thành ĐTĐ thực sự [11].1 Tiêu chí chẩn đoán tiền ĐTĐ [11] Tiêu chí Tiền ĐTĐ 5,6 - 6,9 mmol/L Glucose huyết tương khi đói (100 - 125 mg/dL) Glucose huyết tương sau 2 giờ khi làm nghiệm pháp 7,8 - 11,0 mmol/L dung nạp glucose 75g (140 - 199 mg/dL) HbA1c (định lượng theo phương pháp chuẩn) 5,7 - 6,4% c) Đái tháo đường thai kỳ (là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ typ 1, typ 2 trước đó).
Bệnh phát triển ở phụ nữ mang thai và thường khỏi sau khi mang thai. Tuy nhiên, phụ nữ có ĐTĐ thai kỳ có nguy cơ cao mắc ĐTĐ typ 2 sau khi sinh.