mở đầu hƣớng nghiên cứu sinh thái trong cảnh quan học Việt Nam với bài “Tiếp cận sinh thái trong nghiên cứu cảnh quan”. Năm 1994, ông và Huỳnh Nhung hoàn thành “Quan niệm về cảnh quan, hệ sinh thái, sự phát triển của cảnh quan học và sinh thái học cảnh quan” - làm rõ hơn mối quan hệ giữa cảnh quan và sinh thái học. Cũng năm này, ông và Nguyễn Văn Nhƣng báo cáo về “Chu trình vật chất, trao đổi năng lượng trong một số cảnh quan Việt Nam” - cho thấy quan điểm sinh thái đƣợc vận dụng linh hoạt hơn trong nghiên cứu cảnh quan Việt Nam. Cùng với hƣớng nghiên cứu truyền thống, Việt Nam cũng tiếp cận rất nhanh các hƣớng nghiên cứu cảnh quan có ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin.
Tiêu biểu nhƣ công trình “Nghiên cứu cảnh quan Tây Nguyên trên cơ sở ảnh vệ tinh Landsat” của Nguyễn Thành Long năm 1987; Phạm Hoàng Hải và nnk với công trình “Xây dựng bản đồ cảnh quan sinh thái tỉnh Thanh Hoá tỉ lệ 1 : 200.000 trên cơ sở sử dụng các tư liệu viễn thám” năm 1990; Nguyễn Văn Vinh và Nguyễn Cẩm Vân với “Thành lập bản đồ cảnh quan đồng bằng Nam Bộ tỉ lệ 1 : 250.000 bằng tư liệu viễn thám” năm 1992. Nguyễn Thế Thôn năm 2000 với nghiên cứu “về lý thuyết cảnh quan sinh thái”, năm 2001 đƣa ra “Nguyên tắc và phương pháp thiết kế mô hình kinh tế - môi trường trên cơ sở lý thuyết cảnh quan sinh thái và cảnh quan sinh thái ứng dụng”. Hƣớng nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ mục đích phát triển bền vững lãnh thổ đang trở thành một hƣớng nghiên cứu đƣợc quan tâm đến rất nhiều hiện nay, mà tiêu biểu là các công trình của Phạm Hoàng Hải: Năm 1988, với công trình “Vấn đề lí luận và phương pháp đánh giá tổng hợp tự nhiên cho mục đích sử dụng lãnh thổ - ví dụ vùng Đông Nam Bộ”. Năm 1990, trong Chƣơng trình 48B, ông cùng Nguyễn Trọng Tiến và nnk đã tiến hành “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên dải ven biển Việt Nam cho phát triển sản xuất nông - lâm”.
Năm 1993, ông cùng Nguyễn Thƣợng Hùng thực hiện “Đánh giá tổng hợp cho mục đích sử dụng và khai thác hợp lí tài nguyên Tây Nguyên”. Vào 1997, Nhà 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuất bản Giáo dục đã công bố “Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam” của ông cùng Nguyễn Thƣợng Hùng và Nguyễn Ngọc Khánh - công trình đƣợc đánh giá cao bởi những miêu tả chi tiết các quy luật và đặc trƣng của các cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam trên cơ sở một hệ thống phân loại tƣơng đối thống nhất cho toàn lãnh thổ và theo các miền, các vùng cảnh quan riêng biệt; đồng thời công trình cũng đề cập một cách khá đầy đủ, sâu sắc những biến đổi của tự nhiên nói chung và cảnh quan nói riêng dƣới tác động của con ngƣời, từ đó đƣa ra các giải pháp, các hƣớng tiếp cận khoa học tin cậy nhằm sử dụng hợp lí tài nguyên, bảo vệ môi trƣờng. Trong giai đoạn này còn có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu cảnh quan nhƣ Nguyễn Cao Huần và Trần Anh Tuấn với “Phân loại cảnh quan nhân sinh Việt Nam” (2000), Phạm Quang Anh, Trƣơng Quang Hải với “Phân kiểu cảnh quan Miền Nam Việt Nam” (1991) và “nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững núi đá vôi Ninh Bình” (2008), Phạm Thế Vĩnh (2002) với nghiên cứu cảnh quan sinh thái dải ven biển đồng bằng sông Hồng … và còn rất nhiều các nghiên cứu khác nhau về STCQ trên các vùng miền đất nƣớc của nhiều tác giả khác. Sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của khoa học nghiên cứu STCQ càng ngày càng thể hiện đƣợc tầm ảnh hƣởng của nó đối với sự phát triển KT-XH trên các vùng miền lãnh thổ.
Nó là cơ sở ban đầu không thể thiếu cho mỗi hoạt động quy hoạch phát triển kinh tế xã hội gắn với bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trƣờng. Tổng quan những vấn đề lý luận trong phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan cho các mục đích thực tiễn1. Những vấn đề lý luận phân tích cấu trúc cảnh quan Cấu trúc là một trong những khái niệm có vai trò đặc biệt quan trọng trong khoa học cảnh quan. Là một trong những đặc điểm thể hiện tính đa dạng CQ lãnh thổ.
Trong sinh thái cảnh quan, cấu trúc cảnh quan đƣợc xác định là đối tƣợng nghiên cứu chính (Isaak S. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo định nghĩa của Kalexnik (1978): ”Cấu trúc cảnh quan là tính tổ chức của các bộ phận cấu thành trong không gian và tính điều chỉnh trạng thái theo thời gian (được xem như là cấu trúc không gian và thời gian của địa hệ). Nghiên cứu Cấu trúc CQ bao gồm cả phân tích cấu trúc không gian (bao gồm cấu trúc thẳng đứng và cấu trúc ngang) và cấu trúc thời gian: 1. Cấu trúc thẳng đứng của cảnh quan Cấu trúc thẳng đứng hay còn gọi là cấu trúc hợp phần đƣợc xác định bởi tính chất của các mối liên hệ tƣơng hỗ giữa các thành phần cấu tạo của mỗi cảnh quan, bởi sự kết hợp và quan hệ của các thành phần cấu tạo, phụ thuộc vào hƣớng thay đổi của các thành phần cấu tạo trong quá trình phát triển cũng nhƣ vào tuổi và lịch sử phát triển của cảnh quan.
Cấu trúc đứng bao gồm các hợp phần: địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhƣỡng và sinh vật. Các hợp phần này không phải là những thành phần rời rạc mà chúng có quan hệ tƣơng hỗ với nhau mặc dù các thành phần này không giống nhau về số lƣợng và chất lƣợng, về thành phần vật chất và cƣờng độ các thành phần cấu tạo [2], [3]. Vì vậy khi nghiên cứu cấu trúc thẳng đứng của CQ cần phải xem xét đồng thời tất cả các hợp phần thành tạo trong mối quan hệ giữa chúng. Cấu trúc thẳng đứng thƣờng phức tạp và kém đồng nhất ở các đơn vị CQ lớn và đồng nhất hơn ở các đơn vị CQ nhỏ.
Đơn vị CQ tồn tại càng lâu thì cấu trúc của các thành phần cấu tạo sẽ càng đầy đủ và độ dày theo chiều thẳng đứng sẽ càng lớn. Độ dày của cấu trúc đứng trong các cảnh quan có khác nhau do hình thành trong đới tích tụ hay rửa trôi, do sƣờn thoải hay dốc, do điều kiện khí hậu nóng và ẩm hay khô và lạnh,… Ví dụ: các cảnh quan ở đồng bằng tích tụ với khí hậu ẩm và nóng hay ôn hoà thì có độ dày lớn (độ dày lớp trầm tích vụn bở và thổ nhƣỡng đƣợc tăng lên, thực bì phát triển, tầng nƣớc ngầm biểu hiện rõ). Cấu trúc đứng của đồng bằng luôn dày hơn ở miền núi, do độ dốc của sƣờn và cƣờng độ của các quá trình bóc mòn, đặc biệt là quá trình trọng lực. Cƣờng độ và tốc độ hình thành cấu trúc đứng còn phụ thuộc vào các điều kiện khí hậu, mức độ ẩm trên mặt và nƣớc ngầm.
Nơi có các quá trình tự nhiên diễn 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ra mạnh (mang tính chất địa phƣơng) thì cấu trúc đứng cũng phức tạp và dày hơn. Cấu trúc đứng biến động và vận động trong quá trình lịch sử phát triển lâu dài do ảnh hƣởng các quá trình tự nhiên, đặc biệt là quá trình hiện thời (cấu trúc đứng thƣờng bị phá huỷ ở các đơn vị cảnh quan nhỏ - miền núi). Bên cạnh quá trình tự nhiên thì hoạt động của con ngƣời cũng làm thay đổi cấu trúc đứng (thực bì, thổ nhƣỡng, dòng chảy, địa hình - nhiều nơi thực bì tự nhiên còn bị thay thế bằng thực bì trống trên toàn bộ diện tích). Tại các khu vực cấu trúc đứng của cảnh quan bị biến đổi cơ bản sẽ tạo nên những cảnh quan hoàn toàn mới.
Nghiên cứu cấu trúc đứng của cảnh quan vai trò của các hợp phần trong thành tạo cảnh quan là nhƣ nhau, hợp phần trội phải đƣợc xét cụ thể, trong điều kiện thời gian và không gian xác định, tùy thuộc vào từng cấp phân vị và từng cá thể trong mỗi cấp. Hợp phần trội có thể chỉ là một yếu tố của một hợp phần, có khi là cả một hợp phần, mà cũng có khi là sự kết hợp hữu cơ giữa hai hợp phần. Vì thế, vai trò của các hợp phần phải đƣợc phát hiện một cách khách quan trong quá trình phân tích mối liên hệ giữa các hợp phần. Và khi phân tích thì phải biết sắp xếp các hợp phần thành từng cặp quan hệ với hai yếu tố, một yếu tố đƣợc coi nhƣ là nguyên nhân, còn yếu tố kia là kết quả.
Sau khi phân tích, phải rút ra đƣợc một cặp quan hệ là chủ yếu, có tác dụng quyết định, còn những cặp quan hệ khác đều ở vị trí thứ yếu, phụ thuộc. Từ cặp quan hệ chủ yếu ấy sẽ rút ra đƣợc mâu thuẫn chủ đạo, nắm đƣợc mâu thuẫn này nhằm đƣa ra các hƣớng giải quyết cụ thể và chính xác. Cấu trúc ngang của cảnh quan Cấu trúc ngang gồm các đơn vị cảnh quan cùng cấp hay khác cấp cấu tạo nên cùng những mối quan hệ phức tạp, tính đa dạng, tính không đồng nhất giữa các đơn vị cảnh quan. Bản thân mỗi một đơn vị CQ là một hệ thống hoàn chỉnh riêng nên cấu trúc ngang thƣờng đƣợc mô hình hoá bởi một mô hình đa hệ thống.
Nghiên cứu cấu trúc ngang là nghiên cứu sự phân hóa phức tạp theo không gian lãnh thổ của các đơn vị CQ theo hệ thống phân vị từ cao xuống thấp và mối quan hệ giữa các đơn vị CQ trong các cấp phân loại. Cũng nhƣ cấu trúc thẳng đứng, mỗi một cấp phân vị có 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một cấu trúc ngang riêng, đồng thời cấu trúc ngang của mỗi cá thể thuộc cùng một cấp phân vị cũng có những nét riêng. Theo Vũ Tự Lập, nghiên cứu cấu trúc ngang của một cảnh địa lí là tìm hiểu số lƣợng các đơn vị cấu tạo, đánh giá vai trò của chúng trong việc hình thành nên cảnh và xét các mối quan hệ không gian cũng nhƣ quan hệ phát sinh giữa chúng với nhau. Từ cấp cảnh dạng, cảnh diện, sự phân hoá do các nhân tố địa phƣơng chi phối nên việc xác định số lƣợng các cấp phân vị dƣới cấp CQ rất khó khăn.
Tính phức tạp của cấu trúc ngang có thể đƣợc tính dựa vào công thức tính hệ số phân cắt: M K .