CHƯƠNG 1 Tiếp cận góc độ tài chính, chương này đã chỉ ra tầm quan trọng của tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng và tính cấp thiết trong việc tìm hiểu các nhân tố có thể ảnh hưởng tới tỷ lệ này để từ đó kết hợp với các bằng chứng thực nghiệm, đề tài đã khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, chương này cũng đưa 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ được xác định giải quyết thông qua 3 câu hỏi nghiên cứu. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung, thời gian và không gian. Sau khi khái quát nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, chương này đã khẳng định ý nghĩa, đóng góp của đề tài đối với nhà quản trị ngân hàng.
Cuối cùng, chương này đã cung cấp thông tin khái quát 5 chương của đề tài. 8 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM Chương 2 sẽ thực hiện khảo lược cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm trong và ngoài nước về các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên tại các NHTM niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, qua đó chương này sẽ thảo luận để xác định khoảng trống nghiên cứu và thiết kế mô hình nghiên cứu cho đề tài. Lý thuyết về thu nhập lãi cận biên Để nói về lý thuyết về thu nhập lãi cận biên đã có rất nhiều định nghĩa từ học thuật cho tới những bằng chứng thực nghiệm như: Thu nhập lãi cận biên của một ngân hàng được xác định bằng chênh lệch giữa tổng số tiền lãi nhận được từ hoạt động cho vay và tổng số tiền lãi phải trả cho các khoản nợ và các tài khoản tiền gửi, rồi chia cho tổng tài sản của ngân hàng đó (Maudos và Guevara, 2004; Fungáčová v Poghosyan, 2009). Thu nhập lãi cận biên hay còn gọi là tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) được đo bằng chênh lệch giữa thu nhập từ lãi cho vay và chi phí từ lãi tiền gửi trên tổng tài sản (Peter S.
Nó thể hiện hiệu quả trong việc điều hành của cấp quản trị trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (nguồn thu chủ yếu từ các khoản cho vay, đầu tư và thu từ phí dịch vụ….) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên và phúc lợi…). Thu nhập lãi - chi phí lãi Thu nhập lãi cận biên = Tài sản sinh lời bình quân Nguồn: Peter S.Rose, Quản trị ngân hàng thương mại, 1999 9 Qua các định nghĩa được khái quát ở trên, có thể thấy được rõ các yếu tố cấu thành nên tỷ lệ này. Và từ đó giúp ta hiểu được bản chất của thu nhập lãi cận biên như một công cụ rất cần thiết trong việc đo lường hiệu quả kinh doanh của một ngân hàng. Bên cạnh đó, tỷ lệ này còn đóng vai trò như một thước đo những thay đổi và xu hướng trong biên độ lãi suất và dễ dàng so sánh được tỷ lệ này giữa các ngân hàng.
Về mặt ý nghĩa, chỉ số này cho ta thấy năng lực của ngân hàng trong việc đảm bảo sự tăng trưởng của các nguồn thu so với mức tăng của chi phí. Thông qua chỉ tiêu này, ngân hàng sẽ kiểm soát được tài sản nào có khả năng sinh lời tốt nhất, từ đó phân bổ nguồn lực vào các tài sản sinh lời đó, mang lại thu nhập từ lãi trong kỳ tốt nhất do hoạt động huy động vốn và cho vay đạt hiệu quả. Cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên Thứ nhất, quy mô ngân hàng ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên Theo lý thuyết lợi thế kinh tế vì quy mô (economies of scale theory), quy mô ngân hàng càng lớn thì chi phí trong dài hạn giảm và do đó góp phần gia tăng thu nhập cho ngân hàng; tuy nhiên lý thuyết bất lợi kinh tế vì quy mô thì ngược lại lợi thế về quy mô chỉ phát huy trong một giới hạn nhất định nào đó mà khi quá ngưỡng trên việc tăng quy mô không còn đem lại lợi thế nữa khi chi phí bình quân trong dài hạn có xu hướng gia tăng từ đó lợi nhuận sẽ giảm đi. Do đó, việc quy mô ngân hàng có ảnh hưởng như thế nào đến thu nhập lãi cận biên sẽ còn phụ thuộc vào mức độ quy mô của ngân hàng hiện tại có thực sự phù hợp và dựa trên cơ sở là hai lý thuyết trên.
Thứ hai, rủi ro tín dụng ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên Theo lý thuyết rủi ro và lợi nhuận trong quản trị tài chính, NHTM cấp tín dụng cho khách hàng và kỳ vọng mang cho NHTM một khoản thu nhập; tuy nhiên thu nhập mà NHTM đạt được có thể cao, bằng hoặc thấp hơn kỳ vọng, điều này được lý giải bởi ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến thu nhập, có thể không có ảnh hưởng của rủi ro tín dụng làm giảm thu nhập của NHTM, nhưng cũng có thể rủi ro tín dụng có ảnh hưởng làm giảm thu nhập của NHTM. Ngoài ra, Berger và DeYoung (1997) 10 đưa ra hai giả thuyết nhằm giải thích tác động của rủi ro tín dụng đến thu nhập của NHTM là lý thuyết “kém may mắn” – “bad luck” theory và lý thuyết “quản lý kém” – “bad management” theory, hai lý thuyết này cho rằng rủi ro tín dụng càng cao sẽ ảnh hưởng giảm thu nhập của NHTM, vì khi đó các NHTM phải thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tín dụng nhiều hơn, làm tăng chi phí và giảm thu nhập ròng của các NHTM. Như vậy, rủi ro tín dụng là một trong những nhân tố mà nếu được quản trị tốt thì thu nhập lãi cận biên của các NHTM được đảm bảo như kỳ vọng, và ngược lại, nghĩa là NHTM có rủi ro tín dụng càng lớn thì thu nhập lãi cận biên càng thấp. Thứ ba, quy mô cho vay ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên Lý thuyết chung về quản trị tài chính, đầu tư là một trong những quyết định tài chính chủ yếu và là cơ sở tạo ra thu nhập cho các chủ thể trong nền kinh tế.
Cho vay được xem là một trong những khoản mục tài sản hình thành từ quyết định đầu tư của NHTM, là cơ sở mang lại thu nhập cho NHTM, vì vậy quy mô cho vay càng lớn thì càng mang lại cho NHTM nhiều thu nhập hơn. Tuy vậy, ở một khía cạnh khác, theo lý thuyết rủi ro và lợi nhuận đã được đề cập ở trên nếu thị trường nhiều rủi ro kèm theo sự gia tăng rủi ro tín dụng cũng có thể làm cho sự gia tăng quy mô cho vay ảnh hưởng đến thu nhập của NHTM theo chiều hướng xấu. Thứ tư, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên Theo lý thuyết chức năng trung gian tài chính của NHTM, NHTM huy động vốn, trong đó chủ yếu là huy động tiền gửi của khách hàng và sử dụng vốn huy động để cung ứng vốn cho chủ thể thiếu vốn trong nền kinh tế nhằm hưởng chênh lệch lãi suất (Nguyễn Minh Kiều, 2007), vì vậy tỷ lệ cho vay trên tiền gửi của khách hàng cho biết mức độ sử dụng nguồn vốn huy động được để cho vay nhằm tạo ra thu nhập cho ngân hàng. Việc quản lý tỷ lệ này mang tính chất quản lý nhà nước và được quy định bằng văn bản pháp luật nhằm đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, cơ cấu tín dụng phù hợp, trong đó tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ.
Thứ năm, quy mô vốn chủ sở hữu ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên 11 Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn được tạo nên từ sự góp vốn ban đầu bởi chủ sở hữu của các ngân hàng và được bổ sung dần thêm trong quá trình hoạt động kinh doanh sau này bao gồm vốn điều lệ, thăng dư vốn, lợi nhuận chưa phân phối và các nguồn vốn khác. Quy mô vốn chủ sở hữu không trực tiếp ảnh hưởng đến vốn chủ sở hữu nhưng ảnh hưởng thông qua áp lực tăng trưởng tín dụng. Việc tăng quy mô vốn có thể dẫn đến một sự tăng trưởng quy mô cho vay và có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên như đã phân tích tại ý thứ ba. Bên cạnh đó, tăng vốn cũng giúp các ngân hàng nâng cao năng lực tài chính để đảm bảo hệ số an toàn vốn (CAR).
Thứ năm, sự tăng trưởng của ngân hàng ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên Sự tăng trưởng của ngân hàng thể hiện qua sự gia tăng của nhiều yếu tố như tổng tài sản, vốn chủ sở hữu hay tăng trưởng quy mô cho vay. Nhân tố này không trực tiếp ảnh hưởng nhưng thông qua hệ quả từ việc tăng tổng tài sản hoặc nguồn vốn nhằm cung ứng cho hoạt động tín dụng với mục tiêu gia tăng lợi nhuận. Thứ sáu, hiệu quả quản lý chi phí của ngân hàng ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên Theo lý thuyết chung về chi phí và lợi nhuận, sự gia tăng về chi phí có ảnh hưởng ngược chiều với biến động của lợi nhuận. Do đó việc quản lý hiệu quả chi phí có vai trò quan trọng trong việc tiết kiệm chi phí nhằm cải thiện lợi nhuận của các NHTM hiện nay.
Một ngân hàng có những chính sách hoạt động hiệu quả, tránh lãng phí sẽ có được một nguồn lợi nhuận tốt như một hệ quả. BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM Trong thời gian qua, đã có rất nhiều nghiên cứu trong nước và ngoài nước về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các NHTM. Trong khi có nhiều nghiên cứu tập trung vào việc tìm hiểu thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng ở một khu vực hay một nhóm các quốc gia (ví dụ như nghiên cứu của Doliente (2005) ở các nước Đông Nam Á, Maudos và Guevara (2004) ở các nước Châu Âu, Garza-García, J. (2010) ở các nước đang phát triển,…) thì một số nghiên cứu khác lại tập trung vào một quốc gia cụ thể (ví dụ như nghiên cứu của Fentaw 12 Leykun (2016) ở Ethiophia, Kaiguo Zhou and Michael C.
Tác giả lược qua các kết quả nghiên cứu trước trong 2 thập niên gần đây nhất bằng hai phần nghiên cứu trong nước và ngoài nước như sau: 2.