CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ SỰ THÀNH CÔNG CỦA TRANG WEB 1. Khái niệm sự thành công Sự thành công là đa chiều và có thể được đánh giá ở các cấp độ khác nhau của tổ chức bằng cách sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, sự phát triển của các số liệu đánh giá xác nhận là rất quan trọng quyết định cho sự thành công của thương mại điện tử trong tương lai.
Khái niệm này giải quyết khó khăn trong việc đo lường thương mại điện tử thành công bằng cách thực hiện các DeLone và McLean (D & M) mô hình IS thành công (1992, 2003) trong một môi trường thương mại điện tử. - Các biện pháp của sự thành công Trong bối cảnh của Internet thương mại điện tử, sự thành công của hệ thống thiết phải được dựa trên các mục tiêu của việc quản lý hệ thống (Hasan và Tibbit, 2000). Trong bối cảnh thương mại trực tuyến, sự thành công của hệ thống thiết phải được dựa trên các mục tiêu quản lý của hệ thống đó. Sự lựa chọn của các cấu trúc thành công là phụ thuộc vào mục tiêu của nghiên cứu hoặc bối cảnh của tổ chức (DeLone và McLean, 2003).
Qua các biện pháp đã bao gồm số lượng truy cập, doanh số bán được tạo ra, và doanh thu, số truy vấn nhận được, số lượt truy cập và góp ý xây dựng. Điều này cho thấy rằng các truy vấn nhận được, số truy cập và phản hồi những gì đã tổ chức giá trị cho các bên liên quan.2 Hành vi mua bán trực tuyến a) Mua bán trực tuyến Mua bán trực tuyến là quá trình theo đó người tiêu dùng trực tiếp mua hàng hoá, dịch vụ từ một người bán trong mọi thời điểm mà không có một Luan van 13 dịch vụ trung gian trên Internet. Đó là một hình thức thương mại điện tử. Một cửa hàng trực tuyến, eShop, cửa hàng điện tử, cửa hàng internet, webshop, webstore, cửa hàng trực tuyến, hoặc lưu trữ ảo gợi lên sự tương tác vật lý của việc mua sản phẩm hoặc dịch vụi.
Nói cách khác, mua bán trực tuyến là quá trình NTD thực hiện hành vi mua bán sản phẩm/dịch vụ trên mạng internet. Hành vi người tiêu dùng trực tuyến Thương mại điện tử bắt đầu trở thành một trong những đặc trưng chủ yếu trong kỉ nguyên internet. Hành vi mua bán trực tuyến liên quan đến quá trình mua bán sản phẩm/dịch vụ thông qua internet. Qui trình này gồm có 5 bước cũng giống như hành vi mua bán truyền thống của người tiêu dùng.
Trong quá trình ra quyết định mua bán trực tuyến đặc biệt hơn, khi khách hàng nhận ra nhu cầu, họ truy cập internet tìm kiếm những thông tin liên quan nhu cầu. Sau đó họ đánh giá tất cả những thông tin được tìm kiếm, phương án lựa chọn. Cuối cùng là quyết định đặt hàng với nhà cung cấp dịch vụ. Những nghiên cứu về thái độ và hành vi mua bán trực tuyến mới được thực hiện trong những năm gần đây.
Phần lớn trong các cuộc nghiên cứu này xác định những nhân tố ảnh hưởng và đóng góp vào hành vi và thái độ mua bán trực tuyến của người tiêu dùng. Ví dụ, trường hợp Burns and Dick (2001, p873) cho rằng “kiến thức về internet (interner knowledge), thu nhập, và trình độ học vấn là những dự báo đặc biệt cho việc mua bán trên internet Bellman, Lohse and Johnson (1999) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa yếu tố nhân khẩu học (demographics), đặc điểm cá nhân (personal characterictis) với thái độ đối với mua bán trực tuyến. Những người có phong cách sống “wire lifestyle” có khuynh hướng mua bán trực tuyến thường xuyên hơn, những người sử dụng internet như công cụ làm việc hằng ngày thích mua bán trên internet hơn. Luan van 14 Javepapa, Tractinsky and Vitaly(2000) cho rằng cảm nhận của người tiêu dùng về qui mô và danh tiếng của cửa hàng ảnh hưởng đến sự tín nhiệm, tin cậy của họ đối với cửa hàng, rủi ro cảm nhận, thái độ và sự tự nguyện, sự sẵn sàng (willingness) để mua.
Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ giữa sự tin cậy của người tiêu dùng đối với cửa hàng internet (trực tuyến) qui mô và danh tiếng cảm nhận của cửa hàng. Người tiêu dùng có độ tin cậy cao sẽ giảm rủi ro cảm nhận với cửa hàng trực tuyến thì sẽ nảy sinh ra những thái độ thuận lợi với cửa hàng và gia tăng sự sẵn sàng để mua sản phẩm từ cửa hàng. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THÀNH CÔNG CỦA TRANG WEB 1. Thông tin Thông tin là sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội.
Điều cơ bản là con người thông qua việc cảm nhận thông tin làm tăng hiểu biết cho mình và tiến hành những hoạt động có ích cho cộng đồng. Thông tin làm tăng hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức và là cơ sở của quyết định. Cho đến nay có rất nhiều cách hiểu về thông tin, tuy nhiên các định nghĩa sau đây là cô đọng và đầy đủ ý nghĩa: – Thông tin là “điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến; là tri thức, tin tức”. Theo từ điển Oxford.
– “Thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm sức mạnh của con người”. Thông tin có thể nhận biết về mặt định lượng; nhưng khó nhận biết về mặt định tính. Thông tin có thể mua bán, trao đổi, tích lũy, lưu trữ, quyền sở hữu. Một nét đặc biệt của thông tin là nó không cạn kiệt và càng sử dụng thì thông tin càng được phổ biến, càng tạo ra được nhiều nguồn lợi ích, tri thức cho người sử dụng.
Luan van 15 Thông tin tốt là phải đáp ứng yêu cầu của người sử dụng một cách hoàn toàn khi nó có khả năng thích ứng, kịp thời, chính xác và đầy đủ, và ngắn gọn. Nhưng đôi khi nguồn thông tin cũng cần trình bày hấp dẫn và dễ sử dụng. Một nguồn thông tin không tốt khi nó không thích ứng, không rõ ràng đầy đủ, hoặc quá tải nhưng đối với tri thức. Thông tin được phân loại theo nhiều tiêu thức cụ thể: - Thông tin phân loại theo giá trị và quy mô sử dụng có: thông tin thường thức, thông tin tác nghiệp, thông tin chiến lược.
- Thông tin phân loại theo nội dung bao gồm: thông tin khoa học công nghệ, thông tin kinh tế, thông tin pháp luật, thông tin văn hóa xã hội. - Thông tin phân loại theo đối tượng sử dụng bao gồm: thông tin đại chúng, thông tin khoa học. - Thông tin phân loại theo mức độ xử lý nội dung bao gồm: thông tin cấp một (thông tin phát sinh), thông tin cấp hai (tổng hợp thông tin cấp một), thông tin cấp ba (tìm kiếm và chỉ dẫn). - Thông tin phân loại theo hình thức thể hiện thông tin bao gồm: thông tin nói, viết, thông tin hình ảnh, thông tin đa phương tiện.
Dịch vụ thông tin Bản thân dịch vụ thông tin được xem như là các hoạt động bao gồm: chọn lọc, xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin ở tất cả các dạng có thể như bằng lời nói, chữ viết và âm thanh, v.v… nhưng bản chất của dịch vụ thông tin là cung cấp, là phổ biến thông tin. Hoạt động này được hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu dùng tin ngày càng cao tạo nên sự gắn bó hữu cơ giữa cơ quan thông tin – người cung cấp, thực hiện dịch vụ - với người sử dụng thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu dùng tin ngày càng cao. Hệ thống thông tin Hệ thống thông tin là một tập hợp và kết hợp của các phần cứng, phần mềm và các hệ mạng truyền thông được xây dựng và sử dụng để thu thập, tạo, tái tạo, phân phối và chia sẻ các dữ liệu, thông tin và tri thức nhằm phục vụ các mục tiêu của tổ chức. Hệ thống thông tin: Là một hệ thống sử dụng công nghệ thông tin để thu thập, truyền, lưu trữ, xử lý và biểu diễn thông tin trong một hay nhiều quá trình kinh doanh.
Các tổ chức có thể sử dụng các hệ thống thông tin với nhiều mục đích khác nhau. Trong việc quản trị nội bộ, hệ thống thông tin sẽ giúp đạt được sự thông hiểu nội bộ, thống nhất hành động, duy trì sức mạnh của tổ chức, đạt được lợi thế cạnh tranh. Với bên ngoài, hệ thống thông tin giúp nắm bắt được nhiều thông tin về khách hàng hơn hoặc cải tiến dịch vụ, nâng cao sức cạnh tranh, tạo đà cho phát triển. Hoạt động của hệ thống thông tin tốt hay xấu được đánh giá thông qua chất lượng thông tin mà nó cung cấp.
Tiêu chuẩn của chất lượng thông tin như sau: - Độ tin cậy Độ tin cậy thể hiện các mặt về độ xác thực và độ chính xác. Thông tin ít độ tin cậy dĩ nhiên là gây cho tổ chức những hậu quả tồi tệ. Chẳng hạn như hệ thống lập hóa đơn bán hàng có nhiều sai sót, nhiều khác hàng phản ánh về việc tiền phải trả ghi cao hơn giá trị hàng hóa đã thực mua dẫn tới ảnh hưởng xấu đến uy tín của cửa hàng, lượng khách hàng giảm xuống và doanh số bán sẽ sụt xuống. - Tính đầy đủ Luan van 17 Tính đầy đủ của thông tin thể hiện sự bao quát các vấn đề đáp ứng yêu cầu của nhà quản lý hệ thống, người sử dụng hệ thống.
Việc sử dụng một thông tin không đầy đủ có thể dẫn tới quyết định và hành động không đáp ứng với đòi hỏi của tình hình thực tế. - Tính thích hợp và dễ hiểu Khi có nhiều thông tin không thích ứng với người nhận, thiếu sự sáng sủa, sử dụng quá nhiều từ viết tắt, đa nghĩa hoặc bố trí chưa hợp lý của các phần tử thông tin sẽ dẫn tới thông tin đó mặc dù có liên quan nhưng vẫn không được sử dụng để phục vụ cho nhu cầu của người sử dụng. Điều đó dẫn tới tốn phí cho việc tạo ra những thông tin không dùng hoặc là các quyết định sai khi thiếu thông tin cần thiết. - Tính được bảo vệ Thông tin đối với cá nhân và tổ chức sử dụng nó là một nguồn lực quan trọng, nó cũng được bảo vệ và chỉ có những người có quyền và ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thông tin đó mới được tiếp cận.
Sự thiếu an toàn thông tin cũng có thể gây ra những thiệt hại lớn cho cá nhân, tổ chức. - Tính kịp thời Thông tin có thể là tin cậy, dễ hiểu, thích ứng và được bảo vệ an toàn nhưng vẫn không có ích khi nó không được gửi tới người sử dụng vào lúc cần thiết.