CHƯƠNG 1 Hoạt động tín dụng của NHTM đóng vai trò quan trọng là động lực cho hoạt động phát triển nền kinh tế. Bên cạnh đó, hoạt động tín dụng là nghiệp vụ then chốt quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Tuy nhiên hoạt động của các NHTMCP tiềm ẩn nhiều rủi ro khi chịu nhiều ảnh hưởng từ các nhân tố vi mô và vĩ mô. Vì vậy nghiên cứu về nợ xấu của NHTM và các yếu tố tác động đến nợ xấu của NHTM là vô cùng cần thiết đối với các NHTM Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Từ đó đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm ngăn ngừa và hạn chế nợ xấu. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NHTM 2.1 Lý thuyết tổng quát về nợ xấu tại các NHTM 2.1 Khái niệm nợ xấu Nợ xấu là thuật ngữ xuất hiện thường xuyên trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Thuật ngữ phổ biến và hay gặp nhất trong các báo cáo tài chính ngân hàng là Non-Performance Loan (tên viết tắt: NPL) hay còn gọi là nợ khó đòi, được gọi là các khoản nợ dưới chuẩn, quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ cũng như khả năng thu hồi vốn của chủ nợ. Đây là một trong các chỉ số quan trọng chỉ báo mức độ hoạt động hiệu quả của tổ chức tài chính.
Có thể sử dụng các cụm từ như “bad debt”, “doubtful debt” để thể hiện các khoản nợ khó đòi (Fofack, 2005). Nợ khó đòi là thuật ngữ thường xuất hiện trên báo chí hoặc các khoản nợ không trả được (defaulted loans) hay các khoản cho vay bắt đầu được đưa vào nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở lên (Rose, 2004). Nợ xấu “Non-accrual loans” (theo hệ thống chuẩn mực kế toán của Mỹ US GAAP). Có thể thấy hiện nay không có sự thống nhất cố định nào khi nói về vấn đề nợ xấu.
Chúng ta có thể nhắc tới một số khái niệm như sau: Theo quan điểm của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Để tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (FSIs), IMF đã định nghĩa về nợ xấu như sau “Một khoản vay được xem là nợ xấu khi đã quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi hơn 90 ngày; khi các khoản lãi đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn sẽ được cơ cấu lại, vốn hóa, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận. Các khoản vay đến hạn thanh toán có thời hạn dưới 90 ngày nhưng phát sinh dấu hiệu khách hàng không thể hoàn thành trả nợ đầy đủ (ví dụ khách hàng phá sản). Sau khi khoản vay xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay nào thay thế cũng được xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc” (Trong đoạn văn 4.85 IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004). Cùng với đó Liên hợp quốc (Nhóm chuyên gia tư vấn - AEG) cũng đồng quan điểm với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) “Một khoản vay được xem là nợ xấu khi khoản nợ đó quá hạn trả lãi hoặc gốc trên 90 ngày; Các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên sẽ được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; Các 6 khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ” (Advisory Expert Group viết tắt là AEG, 2004).
Theo quan điểm của Ngân hàng Thương Mại trung ương Châu Âu (ECB) Khái niệm nợ xấu của Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) căn cứ trên tiêu chí của BCBS, cho rằng “Một khoản nợ được xem là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và gốc trên 90 ngày, phù hợp với định nghĩa của BaselII về thiệt hại hoặc khi có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Theo quan điểm của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) BCBS không đưa ra thời gian quá hạn chi trả khi một khoản nợ bị coi là “xấu” (30 đến 89 ngày, 90 đến 179 ngày hoặc trên 180 ngày ở các quốc gia khác nhau) mà cho rằng đó là “khoản nợ đã quá hạn và các ngân hàng nhận thấy rằng khách hàng không có khả năng trả nợ khi ngân hàng tiến hành thực hiện thu hồi”. Theo quan điểm của Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) Chuẩn mực kế toán quốc tế về ngân hàng cho rằng các khoản nợ bị giảm giá trị (impaired) thay vì dùng từ nợ xấu (non-performing). Định nghĩa được khuyến cáo áp dụng ở các quốc gia phát triển trên thế giới, chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay, không quan tâm đến thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn.
Phương pháp dùng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng là phương pháp xếp hạng khoản vay hoặc phân tích dòng tiền tương lai. Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của Ngân hàng Nhà nước nợ xấu được định nghĩa như sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn).” Theo khoản 2 Điều 3 Phụ lục của Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng do Quốc hội ban hành, nợ xấu xác định theo phương pháp định lượng bao gồm: nợ nhóm 3 là các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày; nợ nhóm 4 là các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và nợ nhóm 5 là các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. Theo Khoản 8, Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN và Điều 1 Nghị quyết số 42/2017/QH14, nợ xấu bao gồm: Khoản nợ đang hạch toán trong, ngoài bảng cân 7 đối kế toán của tổ chức tín dụng; khoản nợ xấu mà tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu đã mua của tổ chức tín dụng. Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 nợ xấu được chia thành 5 nhóm sau: a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: (i) Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
(ii) Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn. (iii) Nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại khoản 2 Điều này. b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày. (ii) Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.
(iii) Nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày. (ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu. (iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
(iv) Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây: - Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; - Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp. - Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật. 8 - Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật. - Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật.
- Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. - Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. (v) Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra. (vi) Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: (i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày. (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai. (iv) Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi.
(v) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được. (vi) Nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này. đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: (i) Nợ quá hạn trên 360 ngày. (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
(iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai. (iv) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn. (v) Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này quá hạn trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi. 9 (vi) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được.
(vii) Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản. (viii) Nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 Điều này.