chương 1 trình bày cấu trúc của luận văn gồm 5 chương và tóm tắt nội dung chính của từng chương. 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NỢ XẤU 2.1 Khái niệm về nợ xấu Xét về nợ xấu của NHTMCP ở Việt Nam, có rất nhiều quan điểm, góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nợ xấu, dựa trên đặc điểm kinh tế của tuổi quốc gia và quan điểm của các tổ chức khác nhau. Một số thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến trên thế giới với các từ nhƣ “Non-performing loans” (NPL), “non-performing loans”, “doubtful debt” chỉ các khoản nợ khó đòi (Fofack, 2005) hoặc các khoản vay có vấn đề (Berger và De Young, 1997) hoặc khoản nợ không trả đƣợc “defaulted loans” mà ngân hàng không thể thu lợi từ nó (Ernst & Young, 2004) hay các khoản cho vay bắt đầu đƣợc đƣa vào nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở lên (Peter Rose, 2004; Mishkin, 2010).
Hiện tại không có một quy tắc hay chuẩn mực thống nhất khi thảo luận về vấn đề nợ xấu. Định nghĩa về nợ xấu đã đƣợc Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đƣa ra nhƣ sau “Một khoản cho vay đƣợc coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã đƣợc tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dƣới 90 ngày nhƣng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ đƣợc thực hiện đẩy đủ” (IMF, 2004). Về cơ bản, nợ xấu theo IMF đƣợc xác định dựa trên 2 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày hoặc (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Một số quốc gia trên thế giới (trong đó có Trung Quốc) áp dụng định nghĩa này của IMF.
Theo quan điểm về nợ xấu của Ngân hàng trung ƣơng châu Âu (ECB) căn cứ trên tiêu chí chủ yếu của BCBS, cho rằng “Một khoản vay ngân hàng đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn trên 90 ngày mà ngƣời vay chƣa thanh toán gốc hoặc lãi vay đến hạn” 9 (European Central Bank, 2016). Nhƣ vậy, có thể hiểu rằng ECB xác định nợ xấu dựa trên yếu tố định lƣợng là quá hạn trên 90 ngày. Định nghĩa của Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), đƣợc “khuyến cáo áp dụng ở một số nƣớc phát triển, chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay mà không quan tâm tới thời gian quá hạn chƣa tới 90 ngày hoặc chƣa quá hạn. Phƣơng pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thƣờng là phƣơng pháp phân tích dòng tiền tƣơng lai hoặc xếp hạng khoản vay”.
Hệ thống này đƣợc coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhƣng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn và chƣa đƣợc sử dụng phổ biến. Tại Việt Nam, theo Thông tƣ số 11/2021/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có mức trích, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài (Thông tƣ 11), có hiệu lực từ 01/10/2021: “Nợ xấu là những khoản nợ đƣợc phân loại vào nhóm 3 (dƣới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)”. Theo đó nợ nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày. Đồng thời các ngân hàng thƣơng mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Nhƣ vậy, khi xem xét nợ xấu theo định nghĩa của NHNN Việt Nam với IMF, EBC và IAS có thể thấy ngoại trừ định nghĩa của IAS thì ba tổ chức còn lại có sự tƣơng đồng về mặt định lƣợng thời gian trả nợ quá hạn trên 90 ngày. Quan điểm nợ xấu của NHNN Việt Nam giống với quan điểm của IMF là xem xét thêm yếu tố định tính là khả năng trả nợ của ngƣời vay không quá 90 ngày. Tóm lại, theo các khái niệm trên thì nợ xấu đƣợc xác định theo 2 yếu tố chính: (i) nợ quá thời hạn thanh toán cả gốc, lãi từ 90 ngày trở lên và (ii) sự nghi ngờ về khả năng trả nợ của ngƣời đi vay. Nghiên cứu cũng sử dụng tỷ lệ nợ xấu đƣợc đo lƣờng bằng giá trị khoản cho vay bị quá hạn trên 90 ngày trên tổng dƣ nợ trong các báo cáo 10 chính thức theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) của các NHTM để thực hiện nghiên cứu.2 Phân loại nợ xấu Trên thế giới hiện nay vẫn chƣa có một tiêu chuẩn quốc tế thống nhất phân loại nợ xấu.
Bởi phân loại nợ tùy thuộc vào mức độ rủi ro của khoản nợ đó đối với TCTD sẽ đƣợc phân chia các khoản nợ trong danh mục cho vay của TCTD vào các nhóm khác nhau phù hợp tƣơng ứng (Laurin và cộng sự, 2002). Tại Anh, các nhà quản trị ngân hàng không yêu cầu bắt buộc về việc sử dụng loại hình phân loại nợ xấu cụ thể nào. Hay tại Hà Lan, chƣa có quy định cụ thể về việc phân loại nợ, cho phép các nhà quản lý hệ thống ngân hàng tự phân loại và đƣợc xem xét định kỳ bởi giám sát ngân hàng. Tại Pháp, quy định một hệ thống các yêu cầu tối thiểu để các khoản vay đƣợc phân loại là có dấu hiệu xấu đi nhƣng không có chi tiết hƣớng dẫn cụ thể về phân loại, theo đó các ngân hàng tự xây dựng hệ thống phân loại nợ nội bộ theo yêu cầu của cơ quan quản lý.
Cách tiếp cận tƣơng tự cũng xuất hiện ở Italy, ở đây thì 5 nhóm nợ đƣợc đƣa ra, nhƣng chỉ có khái quát sơ lƣợc về việc thực hiện phân loại, không quy định cụ thể (Đinh Thị Thanh Vân, 2012). 11 Cách phân loại nợ tại một số quốc gia: Bảng 2.1-1 Phân loại nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng ở một số quốc gia Số lƣợng Quy định dự Nƣớc nhóm Ghi chú phòng vay Không có quy định cụ thể về lập Italy 5 dự phòng 4 nhóm bao gồm: cho vay không rủi ro, cho vay có dấu hiệu rủi ro, Đức 4 Dự phòng cụ thể nợ có dấu hiệu không thu hồi, nợ xấu Chỉ dự phòng cho 3 nhóm cuối với Nhật 5 Dự phòng cụ thể tỷ lệ lần lƣợt là 15%, 70%, 100% Dự phòng chung Tỷ lệ dự phòng cho 5 nhóm lần Trung Quốc 5 và dự phòng cụ thể lƣợt là 1%, 3%, 12%, 25%, 50% Chia cụ thể làm 2 loại bảo đảm Dự phòng chung Ấn Độ 4 hoặc không có bảo đảm có tỷ lệ dự và dự phòng cụ thể phòng khác nhau và linh hoạt Nguồn: Trích từ số liệu của Laurin và cộng sự (2002) 12 Ngân hàng thế giới (Word Bank) đã phân loại nợ nhƣ sau: Bảng 2.1-2 Phân loại nợ của Ngân hàng thế giới Khoảng vay Đặc điểm Không nghi ngờ gì về khả năng trả nợ Đạt tiêu chuẩn Đạt tiêu chuẩn Tài sản đƣợc đảm bảo thanh khoản bằng tiền hoặc tƣơng đƣơng tiền Quả hạn dƣới 90 ngày Cần theo dõi Khả năng trả nợ liên quan đến Điều kiện kinh tế hay hoàn cảnh tài chính khó khăn Quá hạn dƣới 90 ngày Dƣới tiêu chuẩn Các đặc điểm xấu về tín dụng ảnh hƣởng đến khả năng trả nợ Những khoản nợ đã đƣợc thỏa thuận lại Quá hạn từ 90 - 180 ngày Không chắc thu hồi đƣợc toàn bộ nợ dựa trên các điều kiện Đáng ngờ hiện tại Có khả năng thất thoát Quá hạn từ 180 – 360 ngày. Các khoản vay không thu lại đƣợc Mất vốn Quá hạn hơn 360 ngày. Nguồn Tác giả tổng hợp từ Word Bank Publications (2003) Nợ xấu đƣợc quy định cụ thể trong quy chế phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng tại Việt Nam, theo Quyết định số 493/2005 của Thống đốc NHNN ngày 22/4/2000 và theo Điều 6 Quyết định số 22/VBHN-NHNN.
Nợ đƣợc chia thành 5 nhóm theo cách tiếp cận định lƣợng. Các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 đƣợc phân loại là nợ xấu của ngân hàng. Về phân loại nhóm nợ, Việt Nam phù hợp với một số quốc gia trên thế giới, bao gồm Hoa Kỳ, Nhật 13 Bản, Hàn Quốc. Tính chung của các nhóm nợ là cơ sở để phân loại năm nhóm nợ và giải thích cơ bản của mỗi nhóm ở một số lƣợng lớn các quốc gia trên khắp thế giới.
Mẫu nghiên cứu của tác giả là các NHTMCP tại Việt Nam nên tập trung vào việc phân loại nợ xấu theo quy chuẩn của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam (Bảng 2.1-3) để làm cơ sở tính toán nợ xấu.1-3 Phân loại nợ tại Việt Nam Nhóm nợ Phƣơng pháp định lƣợng Phƣơng pháp định tính Nợ đủ tiêu Nợ trong hạn hoặc quá hạn dƣới 10 Có khả năng thu hồi đầy đủ chuẩn ngày cả nợ gốc và lãi đúng hạn Có khả năng thu hồi đầy đủ Quá hạn 10 - 90 ngày, nợ điều chỉnh cả gốc và lãi, nhƣng có dấu Nơ cần chú ý hạn trả nợ lần đầu hiệu suy giảm khả năng trả nợ Không có khả năng thu hồi Nợ dƣới tiêu Quá hạn 91 – 180 ngày, nợ gia hạn nợ gốc và lãi khi đến hạn, chuẩn lần đầu, miễn hoặc giảm lãi có khả năng tổn thất Quá hạn 180 – 360 ngày, nợ cơ cấu Nợ nghi ngờ Có khả năng tổn thất cao lại thời hạn trả nợ lần thứ hai Nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ cơ cấu Nợ có khả năng Không còn khả năng thu lại thời hạn trả lần 1, lần 2 nhƣng mất vốn hồi, mất vốn quá hạn nợ cơ cấu lần thứ 3 trở lên Nguồn: Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN 22/4/2005 14 2. TÁC ĐỘNG CỦA NỢ XẤU 2.1 Đối với ngân hàng Giảm lợi nhuận của ngân hàng: Việc mở rộng các khoản vay mới sẽ giúp ngân hàng tạo ra một khoản thu nhập từ lãi. Đồng nghĩa với vệc này cho thấy, nếu một khoản nợ tiêu chuẩn sẽ đem lại một nguồn lợi nhuận về cho ngân hàng. Mặt khác, nếu các khoản vay không đƣợc chi trả đúng thời hạn, tình trạng nợ xấu phát sinh.
Việc này khiến ngân hàng không tăng mà còn “bắn ngƣợc” gây suy giảm thu nhập của ngân hàng. Bởi ngân hàng cần phải tốn các chi phí để trích lập dự phòng rủi ro, nhằm ngăn chặn và hạn chế khả năng có thể mất vốn. Nhƣ vậy, có thể nói rằng tình trạng nợ xấu xảy ra sẽ làm phát sinh nguy cơ rủi ro về gia tăng chi phí, giảm thu nhập, dẫn đến lợi nhuận ngân hàng giảm. Giảm khả năng cung ứng vốn: Khả năng ngân hàng mất vốn là rất cao nếu không thể thu hồi lại nợ đang trong tình trạng nợ xấu.