chương 1 tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu của luận văn, xác định rõ các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể, đặt ra những câu hỏi nghiên cứu, xác định được đối tượng nghiên cứu, phạm vi về không gian và phạm vi về thời gian của nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cấu trúc và những đóng góp của khoá luận. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN 2. Cơ sở lý thuyết về nợ xấu của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm nợ xấu Một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ có độ nhạy cảm cao như ngân hàng thì rủi ro trong kinh doanh rất đa dạng.
Lợi nhuận và rủi ro là hai yếu tố tồn tại song hành, khả năng thu được lợi nhuận cao của một cơ hội kinh doanh luôn tìm ẩn mức độ rủi 13 ro lớn. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được Ủy ban Basel phân thành ba loại: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Với rủi ro tín dụng thường do khách hàng chậm trả hoặc không trả nợ theo hợp đồng tín dụng, không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận. Vì hoạt động tín dụng vẫn chiếm một tỷ trọng cao trong tổng tài sản của các ngân hàng, rủi ro tín dụng có thể gây ảnh hưởng lớn gây ra tổn thất tài chính của ngân hàng.
Để phản ánh chất lượng tín dụng của các NHTM trong nhiều nghiên cứu trước đều lựa chọn yếu tố nợ xấu. Yếu tố này đánh giá được mức độ rủi ro tín dụng trong hoạt động của hệ thống NHTM. Dựa theo khái niệm được đưa ra từ các tác giả, tổ chức nghiên cứu trước trên thế giới thì thuật ngữ nợ xấu: “bad debt”, “non- performing loan”, “doubtful debt” là các khoản cho vay bắt đầu được đưa vào nợ xấu khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở lên (Peter Rose 2009). Theo Advisory Expert Group(AEG): Nợ xấu được xác định dựa trên hai yếu tố: quá hạn trên 90 ngày, khả năng trả nợ bị nghi ngờ.
Cách định nghĩa này về nợ xấu theo AEG không mang tính chất mô tả mà được sử dụng như một hướng dẫn cho các ngân hàng, cụ thể như sau: “ Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng không có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS): Nợ xấu không được định nghĩa cụ thể theo tổ chức này, nhưng theo thông lệ chung về quản lý rủi ro tín dụng tại nhiều quốc gia BCBS hướng dẫn xác định khoản nợ được xem là không có khả năng hoàn trả là khi một trong hai điều kiện hoặc cả hai điều kiện xảy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi và người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Vậy nợ xấu có thể được hiểu là toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không thể trả được nợ. Khi khả năng thu hồi của các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể sẽ dẫn đến việc các khoản vay bị giảm giá trị.
Thu nhập của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng bằng việc ghi nhận một khoản dự phòng phản ánh giảm trừ giá trị khoản vay, vậy lãi suất của các khoản vay này không được cộng dồn và chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế chưa nhận được. Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra định nghĩa về nợ xấu trong đoạn 4.85 của Hướng 14 dẫn để tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (FSIs) như sau: “ một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ khi người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó khoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay thay thế” (IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators 2004). Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) thường sử dụng thuật ngữ các khoản nợ giảm giá trị thay vì nợ xấu để áp dụng cho ngân hàng.
Chuẩn mực Kế toán quốc tế IAS 39 cho rằng một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị cần có bằng chứng khách quan rõ ràng. Tài sản được ghi nhận giảm trong trường hợp nợ bị giảm giá trị. Phương pháp phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng được sử dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng. Khả năng hoàn trả khoản vay được chú trọng trong IAS 39 bất kể thời gian quá hạn chưa đến 90 ngày hoặc chưa quá hạn.
Qua các khái niệm trên nợ xấu có thể hiểu theo mặt định lượng là khoản nợ gốc hoặc nợ lãi quá hạn trên 90 ngày và theo mặt định tính thì nợ xấu là khoản nợ được đánh giá chắc chắn về khả năng không hoàn trả được nợ của người đi vay. Phân loại nợ Phân loại nợ là quá trình xem xét phân loại các danh mục cho vay của ngân hàng, dựa trên mức độ rủi ro và đặc điểm tương đồng. Để việc kiểm soát chất lượng các danh mục cho vay và đưa ra các biện pháp cần thiết xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình cho vay. Giữa các quốc gia có sự lựa chọn đa dạng và khác nhau đối với hệ thống phân loại và lập dự phòng, gây nhiều khó khăn về lý thuyết và thực tế.
Hướng tới một tiêu chuẩn chung thống nhất trong phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng ở các quốc gia Ủy ban Basel đưa ra các hướng dẫn, nguyên tắc nhưng không đưa ra một hệ thống phân loại nợ cụ thể hay các quy trình được chuẩn hóa để đánh giá rủi ro tín dụng. Công trình nghiên cứu của (Lastra và các cộng sự 2016) chỉ ra sự khác nhau trong cách phân loại nợ xấu tại các ngân hàng thuộc nhóm G-20. Hầu hết các quốc gia này cho rằng vai trò của ngân hàng hoặc kiểm toán là để đưa ra các ý kiến xem xét tính đầy đủ, phù hợp và thống nhất trong việc phân loại nợ xấu hay chưa nhưng không ràng buộc quản lý chi 15 tiết và phải chịu trách nhiệm trực tiếp về cách phân loại này. Các nước Mỹ và Đức sử dụng loại hình tiếp cận phân loại nợ rõ ràng, tuy nhiên tại Anh, Hà Lan thì không cần các ngân hàng sử dụng một loại hình phân loại nợ cụ thể nào, cho phép tự phân loại và được giám sát định kỳ bởi giám sát ngân hàng.
Pháp và Ý quy định một hệ thống yêu cầu tối thiểu để một khoản vay bị xem là có dấu hiệu xấu đi nhưng không đi sâu vào chi tiết hướng dẫn cụ thể từng trường hợp phân loại. Tại Châu Á các nước thường quy định cách phân loại tương đồng về các phân loại các khoản nợ vay nhóm 4 và 5. 1 Phân loại nợ theo các quốc gia G20 Quốc gia Các nhóm nợ Argentina Nợ đủ tiêu chuẩn, nợ đặc biệt theo sát, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ có rủi ro cao, nợ khó thu hồi, nợ không thể thu hồi. Úc Không căn cứ vào thời gian 90 ngày mà căn cứ vào tình trạng của khoản nợ có bị nghi ngờ về khả năng trả nợ hay không để 16 được xem là một khoản nợ xấu.
Brazil Căn cứ vào mốc thời gian 90 ngày: nợ quá hạn 90 ngày, nợ không quá 90 ngày nhưng xếp loại e, f,g hoặc h. nợ tái cơ cấu: phân loại theo 9 nhóm aa, a, b ,c, d, e, f, g và h. Canada Khoản tiền đặt cọc với tổ chức tài chính hoặc nợ cơ cấu lại vốn 90 ngày theo hợp đồng. Khoản thanh toán cho bất kỳ khoản vay khác không bao gồm khoản vay bằng thẻ tín dụng theo hợp đồng 90 ngày trừ khi khoản vay được đảm bảo đầy đủ, việc thu nợ đang được tiến hành không quá 180 ngày.
Khoản thanh toán cho bất kỳ khoản vay là 180 ngày, bất kỳ khoản vay thẻ tín dụng quá 180 ngày sẽ bị xóa sổ. Trung Quốc Nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cấn chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ mất vốn. Pháp Quy định một hệ thống các yêu cầu tối thiểu để các khoản vay được phân loại và có dấu hiệu xấu đi nhưng không có chi tiết hướng dẫn cụ thể về phân loại. Đức Cho vay không rủi ro, cho vay có dấu hiệu rủi ro, nợ có dấu hiệu không thu hồi, nợ xấu.
Ấn Độ Khoản nợ có lãi xuất hoặc phần gốc vẫn còn quá hạn hơn 90 ngày, khoản nợ không còn đủ khả năng thanh toán, nợ quá hạn hơn 90 ngày trong trường hợp mua hoặc chiết khấu thương phiếu được xem là nợ xấu. Indonesia Các khoản nợ xấu là các khoản nợ dưới mức tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Ý Nợ xấu, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ tái cấu trúc, nợ quá hạn. Nhật Bản Các khoản vay chi thành 4 loại: bị phá sản hoặc bán phá sản, nợ nghi ngờ, nợ cần chú ý, nợ đủ tiêu chuẩn.
17 Hàn Quốc Nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn. Mexico Dựa theo phân loại: rủi ro quốc gia, rủi ro tài chính, rủi ro ngành, lịch sử thanh toán. Nga Nợ đủ tiêu chuẩn- không có rủi ro tín dụng, nợ dưới chuẩn- rủi ro trung bình, nợ khó đòi- rủi ro tín dụng đáng kể, nợ có vấn đề- rủi ro tín dụng cao, nợ có khả năng mất vốn- không có khả năng thu hồi nợ. Saudi Arabia Nợ xấu, nợ không đúng hạn, nợ quá hạn, trợ cấp.
Nam Phi Nợ tiêu chuẩn, nợ được đề cập đặc biệt, nợ không đạt chuẩn, nợ nghi ngờ. Thổ Nhĩ Kỳ Các nhóm: tiêu chuẩn, đề cập đặc biệt, hạn chế phục hồi, phục hồi đáng ngờ, lỗ. Anh Chưa ban hành quy trình quản lý rủi ro tín dụng rõ ràng.