đặt vấn đề là bên cạnh giá trị tương đối, còn tồn tại giá trị tuyệt đối. Đó là thực thể của giá trị, là số lượng lao động kết tinh, giá trị trao đổi là hình thức cần thiết và có khả năng duy nhất để biểu hiện giá trị tuyệt đối. David Ricardo cũng khẳng định “Giá trị là do lao động hao phí quyết định” và cấu tạo giá trị hàng hoá bao gồm 3 bộ phận là: c+v+m. Ông đã phân tích lao động giản đơn và lao động phức tạp, qui lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình.
Ông cho rằng, lao động xã hội cần thiết quyết định lượng giá trị hàng hoá.2 Học thuyết “Lý luận về giá trị, giá cả” của KMarx và Ph.Ăngghen Dựa trên quan điểm lịch sử, KMarx và Ph.Ăngghen đã thực hiện một cuộc cách mạng về học thuyết giá trị – lao động. KMarx khẳng định, hàng hoá là sự thống nhất biện chứng của hai mặt là giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người chẳng hạn cơm để ăn, xe đạp để đi lại. vật phẩm nào cũng có một số công dụng nhất định.
Công dụng của vật phẩm là do thuộc tính tự nhiên của vật chất quyết định. Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn và là vật mang giá trị trao đổi. Giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá - chất của giá trị là lao động. Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao.
Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Từ việc phân tích các phạm trù giá trị nêu trên, KMarx đã đưa ra định nghĩa về giá cả “Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá”. Giá cả ở đây là giá cả hàng hoá, là mức giá mà được xã hội thừa nhận. Giá trị hàng hoá là giá trị xã hội, được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá, chứ không phải là giá trị cá biệt của từng người sản xuất.3 Bản chất kinh tế của phạm trù giá cả theo học thuyết K.1 Giá cả và giá trị hàng hoá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Giá trị là lao động của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá.
Giá trị là bản chất của giá cả, giá cả là hình thức biểu hiện của giá trị. Trong nền kinh tế thị trường, cung và cầu là những lực lượng hoạt động trên thị trường. Cung và cầu không chỉ có mối quan hệ với nhau mà còn ảnh hưởng tới giá cả thị trường. Khi cung bằng cầu, thì giá cả thị trường ngang bằng với giá trị của hàng hoá.
Khi cung lớn hơn cầu, thì giá cả thị trường thấp hơn giá trị, còn khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả thị trường cao hơn giá trị. Như vậy, cung và cầu thay đổi, dẫn đến làm thay đổi giá cả thị trường của hàng hoá. Trên thị trường, giá cả thị trường chịu tác động của các quy luật kinh tế của thị trường (quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu) nên mức giá cả của từng thứ hàng hoá luôn lên hoặc xuống theo quan hệ cung – cầu, tức là giá cả tách rời giá trị của nó.2 Giá cả và tiền tệ có mối quan hệ tác động qua lại với nhau Tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hoá làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá đem trao đổi, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá.
Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá và do các yếu tố sau quyết định: giá trị hàng hoá, giá trị của tiền và ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu hàng hoá. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Giá cả thị trường tỷ lệ thuận với giá trị thị trường của hàng hoá và tỷ lệ nghịch với giá trị của tiền. Bởi vậy, ngay cả khi giá trị thị trường của hàng hoá không đổi thì giá cả hàng hoá vẫn có thể biến đổi do giá trị của tiền tăng lên hay giảm xuống. Giá cả quyết định sức mua của tiền tệ và ngược lại tiền tệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến giá cả thị trường.
Giá cả là yếu tố quyết định lượng tiền tệ trong lưu thông và có ảnh hưởng tới tốc độ lưu thông tiền tệ. Ở mỗi thời kỳ nhất định, lưu thông hàng hoá bao giờ cũng đòi hỏi một lượng tiền cần thiết cho sự lưu thông.3 Giá cả có mối quan hệ khắng khít với giá trị sử dụng. Trong mỗi hình thái kinh tế – xã hội, sản xuất hàng hoá có bản chất khác nhau, nhưng hàng hoá đều có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng. Hai thuộc tính này thống nhất với nhau, nhưng là sự thống nhất của hai mặt đối lập.
Đối với người sản xuất hàng hoá, họ tạo ra giá trị sử dụng, nhưng mục đích của họ không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, họ quan tâm đến giá trị sử dụng là để đạt được mục đích giá trị mà thôi. Ngược lại, đối với giới tiêu dùng (người mua), cái mà họ quan tâm là giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình, nhưng muốn có giá trị sử dụng thì phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó. Như vậy, trước khi thực hiện giá trị sử dụng, phải thực hiện giá trị của nó. Nếu không thực hiện được giá trị, sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng.
Giá cả không những biểu hiện bằng tiền của giá trị, mà còn phản ánh giá trị sử dụng của hàng hoá. Giá trị sử dụng được biểu hiện ra là: Chất lượng hàng hoá, chi phí sử dụng và tính thay thế lẫn nhau của hàng hoá trong sản xuất và tiêu dùng.4 Giá cả và các quan hệ kinh tế – xã hội Giá cả thị trường chịu tác động của các quy luật kinh tế của thị trường như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu. Các quy luật này tồn tại khách quan, Nhà nước cần vận dụng các quy luật để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Điều này có nghĩa là, Nhà nước phải sử dụng công cụ giá cả để giải quyết các quan hệ kinh tế – chính trị – xã hội của đất nước, làm cho nền kinh tế phát triển hài hoà, ổn định chính trị và xây dựng công bằng trong xã hội.
Giá cả phản ánh tổng hợp và đồng bộ các quan hệ kinh tế – chính trị – xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước cần đảm bảo sự ổn định chính trị – kinh tế - xã hội và thiết lập khuôn khổ luật pháp để tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế. Kinh tế phát triển, hàng hoá sản xuất ra nhiều hơn, đáp ứng nhu cầu tốt hơn, giá cả sẽ ổn định hơn. Ngược lại, giá cả cũng tác động trở lại các quan hệ chính trị – kinh tế – xã hội.
Khi giá cả thị trường ổn định, sức mua của đồng tiền được giữ vững, thu nhập của người lao động ổn định và dần dần tăng lên, thì các quan hệ kinh tế – chính trị – xã hội cũng được ổn định.4 Sự hình thành giá trong các hình thái thị trường Chính sách giá cả của người bán phụ thuộc vào hình thái thị trường. Theo các nhà kinh tế thì có bốn kiểu hình thái thị trường, mỗi hình thái hình thành giá cả theo cách riêng của nó. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo bao gồm nhiều người mua, người bán cùng một loại sản phẩm giống nhau. Trong loại thị trường này, doanh nghiệp là người chấp nhận giá và các doanh nghiệp đều phải hoạt động theo sự dẫn dắt của bàn tay vô hình của thị trường.
Không một người mua hay người bán nào có ảnh hưởng lớn đến mức giá thị trường hiện hành của hàng hoá. Thị trường cạnh tranh độc quyền gồm rất nhiều người mua và người bán không tuân theo giá thị trường thống nhất mà dao động trong khoảng rộng. Người mua có thể thấy sự chênh lệch về giá chào bán và sẵn sàng mua ở các giá khác nhau. Chính sách giá trong thị trường này đặc biệt phát huy tác dụng, ngoài ra doanh nghiệp có thể sử dụng các biện pháp yểm trợ bán hàng khác.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Thị trường độc quyền tập đoàn là thị trường bao gồm một số ít người bán rất nhạy cảm với chính sách hình thành giá cả và chiến lược tiêu thụ của nhau, hàng hoá có thể giống hoặc không giống nhau. Trong thị trường này, các doanh nghiệp đều có xu hướng chấp nhận mức giá của ngành và của các tập đoàn thường có xu hướng liên kết để xác định mức giá phù hợp cho sự phát triển của toàn ngành. Thị trường độc quyền tuyệt đối là thị trường chỉ có một người bán một loại sản phẩm. Sự hình thành giá cả ở từng trường hợp diễn ra rất khác nhau.
Tổ chức độc quyền nhà nước có thể sử dụng chính sách giá cả để đạt được những mục tiêu nhất định. Trong các tổ chức độc quyền tư nhân, doanh nghiệp thường tự xác định giá để thu lợi nhuận phù hợp.4 Tổng quan các nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng Trên thế giới đã có nhiều bài viết và nghiên cứu về vàng và thị trường vàng dưới nhiều góc độ khác nhau. Những nghiên cứu này có thể được phân loại thành bốn nhóm chính: Phương pháp tiếp cận đầu tiên là tìm ra mô hình biến động giá vàng dưới tác động của các biến kinh tế vĩ mô, chẳng hạn như tỷ giá, thu nhập thế giới, những cú sốc chính trị. Phương pháp thứ hai tập trung vào vàng như là một kênh đầu cơ.
Cách tiếp cận này sẽ nghiên cứu tính hợp lý hoặc bất hợp lý của biến động giá vàng. Cách tiếp cận thứ ba xem xét việc đầu tư vào vàng nhiều hơn như một cách để tự bảo hiểm rủi ro cho danh mục đầu tư chống lại lạm phát. Nhóm cuối cùng là những nghiên cứu để xây dựng mô hình giá vàng.